Cá Nhám hổ
Heterodontus zebra

Thông tin chính
Mẫu vật & Tài liệu
Thông Số Sinh Học & Sinh Thái
Dữ liệu FishBase v25.04Tư Liệu Khoa Học & Ghi Chú Chuyên Sâu
Là một loài cá mập phổ biến nhưng ít được nghiên cứu, phân bố ở vùng thềm lục địa và thềm quanh đảo ở độ sâu tối thiểu khoảng 50 m (Ref. 247, 11230) tại Biển Đông, nhưng sống ở vùng nước sâu hơn từ 150 - 200 m ngoài khơi Tây Úc (Ref. 43278). Thức ăn của chúng có thể là các loài động vật không xương sống tầng đáy và cá nhỏ (Ref. 6871). Đây là loài đẻ trứng (Ref. 247).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
A common but little-known shark found on the continental and insular shelves in depths down to at least 50 m (Ref. 247, 11230) in the South China Sea, but deeper and in 150 - 200 meters off Western Australia (Ref. 43278). Probably feeds on bottom invertebrates and small fishes (Ref. 6871). Oviparous (Ref. 247).
Là loài cá mập phổ biến nhưng ít được nghiên cứu, phân bố ở vùng thềm lục địa và thềm quanh đảo ở độ sâu tối thiểu khoảng 50 m. Thức ăn chủ yếu có thể là động vật không xương sống tầng đáy và cá nhỏ (Ref. 247). Tại Nhật Bản, chúng ưa thích khu vực gần Nagasaki và sinh sống ở các vùng rạn đá (Ref. 9137). Đây là loài ăn thịt (Ref. 9137), phân bố ở các vùng biển ôn đới, nơi chúng thường xuyên xuất hiện tại các rạn đá và rừng tảo bẹ. Thức ăn của chúng gồm các loài giáp xác, thân mềm, cá xương nhỏ và cầu gai. Một số mẫu vật được quan sát thấy có thủy tức (hydroids) phát triển ngay trên răng của chúng (Ref. 12951).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
A common but little-known shark found on the continental and insular shelves in depths down to at least 50 m. Probably feeds on bottom invertebrates and small fishes (Ref. 247). In Japan, preferably near Nagasaki; inhabits rocky regions (Ref. 9137). A carnivore (Ref. 9137). Found in temperate waters where it frequents rocky reefs & kelp forests. Feeds on crustaceans, molluscs, small bony fishes, and sea urchins. Some specimens observed with hyrdroids growing in their teeth (Ref. 12951).
Là loài đẻ trứng, trứng được đẻ theo cặp. Phôi chỉ phát triển nhờ nguồn dinh dưỡng từ lòng đỏ (Ref. 50449). Có tập tính ghép đôi rõ rệt kèm theo hành vi ôm giữ khi giao phối (Ref. 205). Cá cái đẻ trứng dạng hình xoắn ốc (dài khoảng 12-18 cm) giữa các kẽ đá và thảm tảo bẹ; nhiều cá cái thường sử dụng chung một bãi đẻ, dẫn đến việc phát hiện một lượng lớn trứng trong cùng một tổ. Cá cái đẻ mỗi lần 2 trứng, kéo dài từ mùa xuân đến cuối mùa hè ở Nhật Bản, thực hiện từ 6-12 lần trong một mùa sinh sản. Trứng nở sau 1 năm. Cá con khi nở có chiều dài khoảng 18 cm, chiều dài tối đa đạt 1,2 m. Trong quá trình tán tỉnh, cá đực cắn giữ vây ngực của cá cái và quấn phần sau thân dưới bụng cá cái để đưa một cơ quan giao cấu (clasper) vào lỗ huyệt của cá cái. Qua các quan sát thực tế, quá trình giao hợp có thể kéo dài tới 15 phút (Ref. 12951).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Oviparous, paired eggs are laid. Embryos feed solely on yolk (Ref. 50449). Distinct pairing with embrace (Ref. 205). Lays auger type eggs (about 12-18cm, 4.7-7 inches long) among rocks & kelp, often with more than female using same oviposition site, with as many eggs found in a single nest; female lay 2 eggs at a time, from spring to late summer in Japan, 6-12 times during a single spawning season. Eggs hatch in 1 year. Hatch at 18 cm (7 inches), max length at 1.2m (3.9 ft.). During courtship, male grasps pectoral fin of female & wraps posterior part of body under her so single clasper can be inserted into her cloaca. In several mating bouts observed, copulation lasted as long as 15 minutes (Ref. 12951).
