Cá Nhám Thu
Isurus oxyrinchus

Thông tin chính
Phân bố
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Loài cá đại dương, đôi khi xuất hiện gần bờ. Thường phân bố ở tầng mặt, độ sâu xuống tới khoảng 150 m. Loài cá ven bờ, sống ở tầng mặt (epipelagic) tại độ sâu từ 1 đến 500 m. Phân tích đồng vị cho thấy cá nhám thu là loài cá săn mồi bậc cao nhất trong các vùng biển khơi ngoài khơi phía đông Úc. Cá trưởng thành thức ăn chủ yếu gồm các loài cá xương, các loài cá mập khác và động vật chân đầu; những cá thể lớn hơn có thể săn các con mồi lớn như cá cờ và các loài thú biển nhỏ. Loài noãn thai sinh, phôi thai phát triển nhờ hấp thụ túi noãn hoàng và các trứng không thụ tinh do cá mẹ sản sinh. Mỗi lứa đẻ từ 4-16 con, kích thước khoảng 60-70 cm. Thời gian mang thai kéo dài 15-18 tháng, chu kỳ sinh sản 3 năm một lần. Một số tác giả trước đây đã giả định sai lầm rằng loài này tạo hai vòng tuổi mỗi năm, dẫn đến việc đánh giá thấp tuổi thọ, tuổi thành thục và khả năng phục hồi của quần thể. Những dữ liệu này đã được loại bỏ và thay thế bằng các ước tính mới, đã được kiểm chứng. Hoạt động đánh dấu tại New Zealand cho thấy loài này có tập tính di cư theo mùa. Sự khác biệt về di truyền trong DNA ty thể giữa các quần thể trên toàn cầu cho thấy sự phát tán có thể thiên lệch về giới đực, trong khi cá cái có tập tính trung thành với nơi sinh sản. Cá nhám thu có cấu trúc quần thể phân tách rõ rệt theo giới tính. Đây có lẽ là loài cá mập nhanh nhất và có khả năng nhảy vọt lên khỏi mặt nước khi mắc câu. Loài này tiềm ẩn nguy hiểm và từng gây ra các vụ tấn công không khiêu khích đối với người bơi lội và tàu thuyền. Sản phẩm được sử dụng ở dạng tươi, phơi khô, ướp muối, hun khói hoặc cấp đông; thường được chế biến bằng cách nướng hoặc bỏ lò. Thịt cá có giá trị cao, cùng với vây và da. Dầu cá được chiết xuất để lấy vitamin, vây dùng làm súp vi cá mập. Hàm và răng cũng được bán làm đồ trang trí và vật phẩm trưng bày. Kabasakal & de Maddalena (2011) đã ghi nhận một mẫu vật lớn hơn bắt được tại biển Địa Trung Hải ngoài khơi Thổ Nhĩ Kỳ, với chiều dài khoảng 585 cm (ước tính từ ảnh chụp). Độ sâu tối đa theo tài liệu tham khảo 125614.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Oceanic, but sometimes found close inshore (Ref. 6871, 11230, 58302). Usually in surface waters (Ref. 30573), down to about 150 m (Ref. 26938, 11230). Coastal, epipelagic at 1->500 m (Ref. 58302). Isotope analysis has shown that shortfin mako is the highest level fish predator in oceanic waters off eastern Australia (Ref. 86961). Adults feed on bony fishes, other sharks (Ref. 5578), cephalopods; larger individuals may feed on larger prey such as billfish and small cetaceans (Ref. 6871, 58048). Ovoviviparous, embryos feeding on yolk sac and other ova produced by the mother (Ref. 43278, 50449). With 4-16 young of about 60-70 cm long (Ref. 35388, 26346). Gestation period lasts 15-18 months, spawning cycle is every 3 years. Some authors (Refs. 1661, 28081, 31395) have erroneously assumed that two age rings are deposited per year by this species, thus underestimating longevity, age at maturity, and resilience . These data have been removed and replaced by recent, verified estimates (Refs. 86586, 86587, 86588). Tagging in New Zealand indicates seasonal migrations (Ref. 26346). The presence of genetic differentiation in mitochondrial DNA across global populations (Ref. 36416) suggests dispersal may be male-biased, and that females may have natal site-fidelity. Shortfin mako has been shown to have a marked sexually segregated population structure (Ref. 86954). Shortfin mako is probably the fastest of all sharks and can leap out of the water when hooked (Ref. 6871). Potentially dangerous and responsible for unprovoked attacks on swimmers and boats (Ref. 13574). Utilized fresh, dried or salted, smoked and frozen; eaten broiled and baked (Ref. 9988). Valued for its fine quality meat as well as its fins and skin (Ref. 247). Oil is extracted for vitamins and fins for shark-fin soup (Ref. 13574). Jaws and teeth are also sold as ornaments and trophies (Ref. 9988). by Kabasakal & de Maddalena, 2011 reported a historical record of a larger specimen, caught in the Mediterranean Sea off Turkey, about 585 cm (TL estimated from photographs) (Ref. 106604). Maximum depth from Ref. 125614.
Phân bố tại vùng thềm lục địa.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Occurs on the continental shelf (Ref. 75154).
Loài noãn thai sinh (đẻ con không qua nhau thai), phôi thai ăn các trứng khác do cá mẹ sản sinh (hiện tượng ăn trứng) sau khi túi noãn hoàng được hấp thụ hết. Mỗi lứa đẻ tối đa 18 con. Cá mẹ đẻ từ 4-25 con (thường là 10-18 con) sau thời gian mang thai 15-18 tháng; chu kỳ sinh sản 3 năm một lần. Kích thước khi mới sinh từ 60 đến 70 cm. Có tập tính bắt cặp riêng biệt với hành vi ôm sát.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Exhibit ovoviparity (aplacental viviparity), with embryos feeding on other ova produced by the mother (oophagy) after the yolk sac is absorbed (Ref. 50449). With up to 18 young in a litter (Ref. 26346). Gives birth to litters of 4-25 (usually 10-18) pups after a gestation period of 15-18 months; reproduces every 3 years (Ref.58048). Size at birth between 60 and 70 cm (Ref. 247). Distinct pairing with embrace (Ref. 205).
Mô tả – Chiếc răng duy nhất được đề cập ở đây nằm trong một mảnh đá vôi Leitha, nhìn từ phía môi (Hình 72). Thân răng mảnh và nhọn, hơi nghiêng về phía xa, với độ cong về phía lưỡi và phần đỉnh hơi nghiêng về phía môi. Cả hai cạnh cắt đều trơn nhẵn, cạnh gần lồi, trong khi cạnh xa gần như thẳng. Cạnh cắt phía xa không chạm tới gốc thân răng. Chân răng chia hai thùy và hơi bất đối xứng, các thùy gặp nhau tạo thành một góc nhọn. Dựa trên các đặc điểm nha khoa được bảo tồn, mẫu vật V. 61.915 được xác định là răng trước, rất có thể thuộc bộ răng hàm dưới (REINECKE và cộng sự 2011, bảng 40 với tất cả các hình minh họa; CAPPETTA 2012, hình 203 H, I).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Description – The only tooth referred here is embedded in a piece of Leitha Limestone, in labial aspect (Fig. 72). The crown is slender and pointed, it slightly inclines distally, with a lingual curvature the very tip reclines labially. Both cutting edges are smooth, the mesial is convex, while the distal is nearly straight. The distal cutting edge does not reach the crown base. The root is bilobate and slightly asymmetrical, the lobes meet in an acute angle. Based on the preserved dental characteristics, specimen V. 61.915 is referred as an anterior tooth, most likely from the lower dentition (REINECKE et al. 2011, pl. 40 with all figurations; CAPPETTA 2012, fig. 203 H, I).
