Quay lại danh sách
#47Tập 1

Cá Nhám búa

Sphyrna lewini (Griffith, 1834)

WoRMS — Tên hợp lệ trên WoRMS
Tên được xác nhận
Xem trên WoRMS (marinespecies.org)

Thông tin chính

Tên gọi khác
Cá Nhám búa, Cá Nhám búa có rãnh
Common Name (EN)
Bronze hammerhead shark
Kích thước
Thường gặp 37 - 69 cm, lớn nhất 300 cm.
Size
Ordinary 37 - 69 cm., maximum 300 cm.

Phân bố

Tây nam Thái Bình Dương, Australia, Trung Quốc, Việt Nam. Vịnh Bắc Bộ, Miền Trung.

Mẫu vật & Tài liệu

Nơi lưu trữ mẫu
Viện Hải sản Hải Phòng.
Specimen
Haiphong Research Institute of Marine Products.
Tình trạng
Thường gặp, số lượng tương đối nhiều.
Status
Common, relatively numerous.
Tài liệu dẫn
Chu Nguyên Đinh, 1962. Nguyễn Khắc Hường, 1992.
Literature
Chu, 1962. Nguyen Khac Huong, 1992.

Sinh học — Sinh thái BIO

Tên tiếng Anh (FishBase)
Scalloped hammerhead
English name (FishBase)
Scalloped hammerhead
Chiều dài tối đa
430.0 cm TL
Max length
430.0 cm TL
Trọng lượng tối đa
152,400 g
Max weight
152,400 g
Tuổi thọ
35.0 năm
Longevity
35.0 năm
Độ sâu phân bố
0 - 1043 m
Depth range
0 - 1043 m
Môi trường sống
Neritic, Estuaries, Coral reefs
Habitat
Neritic, Estuaries, Coral reefs
Sách Đỏ IUCN
CR
IUCN Red List
CR
Nguy hiểm cho người
Khác
Danger to humans
other
Kiểu ăn
Săn mồi lớn (ăn thịt)
Feeding type
hunting macrofauna (predator)
Bậc dinh dưỡng
4.08
Trophic level
4.08
Hình thức sinh sản
Phân giới tính, thụ tinh trong (ống dẫn trứng)
Reproduction
dioecism, internal (oviduct) fertilization
Giá trị thương mại
Thương mại
Importance
commercial
Nuôi trồng thủy sản
Không/hiếm khi
Aquaculture
never/rarely

Ghi chú chi tiết

Tóm tắt sinh học (FishBase)(Biology summary (FishBase))

Là loài cá nhám tầng nổi ven bờ và bán đại dương, phân bố trên thềm lục địa, thềm quanh đảo và các vùng nước sâu lân cận, thường tiếp cận gần bờ và đi vào các vịnh kín hoặc cửa sông. Loài này sinh sống ở vùng nước ven bờ và ngoài khơi với độ sâu khoảng 275 m; từng được ghi nhận qua camera mồi nhử ở độ sâu 512 m. Những đàn cá nhỏ di cư lớn di chuyển về phía các cực vào mùa hè ở một số khu vực, bên cạnh đó cũng tồn tại các quần thể cư trú cố định. Cá con thường xuất hiện ở các vùng ven biển. Cá trưởng thành sống đơn độc, theo cặp hoặc theo đàn, trong khi cá non thường tập trung thành đàn lớn. Thức ăn chủ yếu gồm cá xương và động vật chân đầu, ngoài ra còn ăn tôm hùm, tôm, cua, bao gồm cả các loài cá mập và cá đuối khác. Đây là loài đẻ con (noãn thai sinh có nhau thai). Cá cái trưởng thành sinh từ 15-31 con mỗi lứa, kích thước cá con từ 43-55 cm. Được xem là loài có khả năng gây nguy hiểm cho con người nhưng thường không hung dữ khi thợ lặn tiếp cận. Loài này được khai thác phổ biến bởi các ngư dân ven bờ, các cơ sở đánh bắt nhỏ và cả các hoạt động đánh bắt xa bờ. Sản phẩm được bán dưới dạng tươi, phơi khô, hun khói hoặc cấp đông; vây và da cá cũng là đối tượng được săn lùng. Dầu cá được sử dụng để sản xuất vitamin và xác cá được dùng làm bột cá. Độ sâu tối đa ghi nhận là 1.043 m.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

A coastal-pelagic, semi-oceanic shark occurring over continental and insular shelves and adjacent deep water, often approaching close inshore and entering enclosed bays and estuaries (Ref. 244, 11230, 58302). Found in inshore and offshore waters to about 275 m depth (Ref. 26938, 11230, 58302); has been filmed at a baited camera in 512 m depth (Lis Maclaren, pers. comm. 2005). Huge schools of small migrating individuals move pole ward in the summer in certain areas (Ref. 244). Permanent resident populations also exist (Ref. 244). Juveniles occur in coastal areas (Ref. 58784). Adults solitary, in pairs, or schools; young in large schools (Ref. 13562). Feed mainly on teleost fishes and cephalopods (Ref. 6871), also lobsters, shrimps, crabs (Ref. 30573), including other sharks and rays (Ref. 37816). Viviparous (Ref. 50449). Mature females produce 15-31, of 43-55 cm young in a litter (Ref. 26938, 1602). Considered potentially dangerous to people but often not aggressive when approached by divers (Ref. 13562). Readily available to inshore artisanal and small commercial fisheries as well as to offshore operations (Ref. 13562). Sold fresh, dried-salted, smoked and frozen; also sought for its fins and hides (Ref. 9987). Oil used for vitamins and carcasses for fishmeal (Ref. 13562). Maximum depth from Ref. 125614.

Ghi chú sinh thái(Ecology notes)

Loài này phân bố ở tất cả các vùng biển nhiệt đới và ôn đới ấm. Đôi khi chúng tập trung trên các núi ngầm hoặc xung quanh các đảo xa bờ. Là loài cá nhám tầng nổi ven bờ và bán đại dương, phân bố trên thềm lục địa, thềm quanh đảo và các vùng nước sâu lân cận, thường tiếp cận gần bờ và đi vào các vịnh kín hoặc cửa sông. Sinh sống ở vùng nước ven bờ và ngoài khơi đến độ sâu khoảng 275 m; từng được ghi nhận qua camera mồi nhử ở độ sâu 512 m. Những đàn cá nhỏ di cư lớn di chuyển về phía các cực vào mùa hè ở một số khu vực, bên cạnh đó cũng tồn tại các quần thể cư trú cố định. Thức ăn chủ yếu gồm cá xương, động vật chân đầu và sinh vật phù du; ngoài ra còn ăn tôm hùm, tôm, cua, bao gồm cả các loài cá mập và cá đuối khác. Sống ở tầng nổi. Ăn các loài cá sống ở tầng mặt. Cá con có xu hướng kết đàn và kiếm ăn gần đáy. Khi còn nhỏ, chúng sinh sống ở vùng nước ven bờ và di cư ra vùng nước sâu hơn khi trưởng thành.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

It occurs in all tropical and warm-temperate seas. They sometimes congregate over sea mounts or around offshore islands (Ref. 54301). A coastal-pelagic, semi-oceanic shark occurring over continental and insular shelves and adjacent deep water, often approaching close inshore and entering enclosed bays and estuaries (Ref. 244, 11230, 58302). Found in inshore and offshore waters to about 275 m depth (Ref. 26938, 11230, 58302); has been filmed at a baited camera in 512 m depth (Lis Maclaren, pers. Comm. 2005). Huge schools of small migrating individuals move pole ward in the summer in certain areas (Ref. 244). Permanent resident populations also exist (Ref. 244). Feeds mainly on teleost fishes, cephalopods and zooplankton (Ref. 568, 6871); also lobsters, shrimps, crabs (Ref. 30573), including other sharks and rays (Ref. 37816). Pelagic. Feeds on surface-dwelling fishes. Juveniles tend to form schools and forage near the bottom. Inhabits inshore waters then migrates to deeper waters with age (Ref. 9773).

Ghi chú sinh sản(Reproduction notes)

Đẻ con, có nhau thai, mỗi lứa từ 13-23 con; hoặc 12-41 con sau thời gian mang thai từ 9-10 tháng. Kích thước khi mới sinh đạt 45-50 cm (chiều dài tổng cộng - TL); hoặc 39-57 cm TL.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Viviparous, placental (Ref. 50449), with 13-23 in a litter (Ref. 6871); 12-41 pups after a gestation period of 9-10 months (Ref.58048). Size at birth 45-50 cm TL (Ref. 13562); 39-57 cm TL (Ref.58048).

Mô tả hình thái (GBIF)(Morphological description (GBIF))

Cá Nhám búa (Scalloped Hammerhead). Chiều dài tổng cộng tối đa 4,3 m. Phân bố toàn cầu; phía tây Thái Bình Dương kéo dài về phía bắc đến miền nam Nhật Bản; có nhiều ghi nhận ở miền nam California xa về phía bắc đến Santa Barbara và phía nam đến Puerto Pizarro, Peru, bao gồm cả quần đảo Galápagos. Sống trong môi trường nước mặn và nước lợ; độ sâu từ bề mặt đến ít nhất 1.043 m. Theo các tác giả như Naylor và cộng sự (2012), có bằng chứng cho thấy Sphyrna lewini có khả năng là một phức hợp loài.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Scalloped Hammerhead. 4.3 m (14.1 ft) TL (Robertson and Allen 2008). Circumglobal; western Pacific Ocean north to southern Japan (Yoshino and Aonuma in Nakabo 2002); several southern California records as far north as Santa Barbara, southern California (Seigel 1985) and south to Puerto Pizarro, Peru (Chirichigno and Vélez 1998), including Islas Galápagos (Grove and Lavenberg 1997). Marine and brackish waters (Grove and Lavenberg 1997); depth: surface to at least 1,043 m (3,421 ft) (min.: Weigmann 2016; max.: Moore and Gates 2005), Among other authors, Naylor et al. (2012) found evidence that Sphyrna lewini is likely a species complex.

Danh pháp đồng nghĩa & Phân loại gốc

Zygaena lewini Griffith, Animal Kingd., Vol. 10, p. 640, 1834. Chu. 1962.
Sphyrna zygaena (non Linnaeus) Fang and Wang, Contr. Biol. Lab. Sci. Soc. China, Vol. 8, No. 8, p. 238, 1932. Fowler, 1941.
Sphyrna lewini Fraser-Brummer, Rec. Australia Mus., Vol. 22, No. 3, p. 219, fig. 213, 1950. Matsubara, 1955. Chu, 1962.