Quay lại danh sách
#127Tập 2

Cá Tra

Pangasius krempfi Fang and Chaux, 1942

WoRMS — Tên hợp lệ trên WoRMS
Tên được xác nhận
Xem trên WoRMS (marinespecies.org)

Thông tin chính

Tên gọi khác
Cá Tra
Common Name (EN)
Schilbeid catfish.

Phân bố

Ở biển và cửa sông, Việt Nam. Nam Bộ.

Mẫu vật & Tài liệu

Nơi lưu trữ mẫu
Viện Hải dương học (Nha Trang).
Specimen
Institute of Oceanography (Nhatrang).
Tình trạng
Thường gặp, số lượng ít.
Status
Common, seldom abundant.
Tài liệu dẫn
Nguyễn Khắc Hường, 1993.
Literature
Nguyen Khac Huong, 1993.

Sinh học — Sinh thái BIO

Chiều dài tối đa
120.0 cm SL
Max length
120.0 cm SL
Trọng lượng tối đa
14,000 g
Max weight
14,000 g
Sách Đỏ IUCN
VU
IUCN Red List
VU
Nguy hiểm cho người
Vô hại
Danger to humans
harmless
Kiểu ăn
grazing on aquatic plants
Feeding type
grazing on aquatic plants
Giá trị thương mại
Thương mại
Importance
commercial
Nuôi trồng thủy sản
Không/hiếm khi
Aquaculture
never/rarely

Ghi chú chi tiết

Tóm tắt sinh học (FishBase)(Biology summary (FishBase))

Loài cá này có tập tính di cư nhưng hướng di cư cụ thể vẫn chưa được xác định rõ. Thói quen ăn uống chưa được nghiên cứu. Phân loại học của loài này có thể còn nhiều tranh cãi (Ref. 12693). Đây là loài độc đáo trong họ Pangasiidae tại lưu vực sông Mekong vì dành phần lớn vòng đời tại các vùng nước ven biển. Cá di cư vào sông Mekong (không ghi nhận tại các con sông khác) để sinh sản (Ref. 12369) và được coi là loài cá di cư ngược dòng (anadromous) (Ref. 12369). Giả thuyết cho rằng có ít nhất hai quần thể tại sông Mekong thực hiện di cư (Ref. 37770). Một quần thể di cư từ tháng 5 đến tháng 9, từ phía nam thác Khone ngược dòng đến các bãi đẻ dọc theo dòng chính sông Mekong, kéo dài đến tận Chiang Khong gần biên giới Lào-Thái-Myanmar. Quần thể còn lại di cư xuôi dòng từ khu vực Stung Treng đến các bãi đẻ chưa xác định nằm giữa Stung Treng và Kompong Cham (Campuchia) trong mùa sinh sản từ tháng 5 đến tháng 8. Khi mực nước bắt đầu rút vào tháng 10, cá di chuyển trở lại dòng chính để bắt đầu cuộc di cư phân tán ngược dòng, tiến đến đoạn sông ngay phía dưới thác Khone. Trong mùa khô, cá trú ẩn tại các vực sâu trên dòng chính (Ref. 37770). Chỉ có hai mẫu vật của loài này được thu thập vào ngày 5 tháng 4 năm 1956 và ngày 10 tháng 9 năm 1957 tại thành phố Bắc Hải, Quảng Tây (Ref. 45563). Một mẫu vật khác được ghi nhận vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 tại thành phố Sán Vĩ, tỉnh Quảng Đông (Ref. 45563).

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Migrating but the direction is unknown. Dietary habits have not been studied. Taxonomy of this species may be problematic (Ref. 12693). Unique among pangasiid species in the Mekong in spending a major part of its life in marine coastal waters. Migrates into the Mekong River (but not into any other rivers) in order to breed (Ref. 12369). Regarded to be anadromous (Ref. 12369). It was hypothesized that at least two populations in the Mekong undertake migration (Ref. 37770). One population migrates during May-September from just south of Khone Falls upstream to spawning grounds along the mainstream Mekong all the way to Chiang Khong near the Lao-Thai-Myanmar border. The other population migrates downstream from around Stung Treng to unknown spawning grounds somewhere between Stung Treng and Kompong Cham in Cambodia during the spawning season between May and August. When water level starts to fall in October, the fish moves back to the main river to initiate an upstream dispersal migration, reaching the stretch just below the Khone Falls. Stays in deep pools within the mainstream during the dry season (Ref. 37770). Only two specimens of the fish were collected on April 5, 1956 and September 10, 1957 in Beihai City, Guangxi (Ref. 45563). Another on November 22, 1963 at Shanwei City of Guangdong Province (Ref. 45563).

Danh pháp đồng nghĩa & Phân loại gốc

Pangasius krempfi Fang and Chaux, Bull. Mus. Nat. Hist. Paris (2), Vol.21, No.3, pp.342-346, fig.5, 1942.