Quay lại danh sách
#1Tập 3

Cá Chẽm

Lates calcarifer (Bloch, 1790)

WoRMS — Tên hợp lệ trên WoRMS
Tên được xác nhận
Xem trên WoRMS (marinespecies.org)

Thông tin chính

Tên gọi khác
Cá Chẽm, Cá Vược
Common Name (EN)
White sea-bass, Giant Sea Perch.
Kích thước
1500 - 1700 mm.
Size
1500 - 1700 mm.

Phân bố

Bắc Australia, Ấn Độ, Indonesia, New Guinea, Philippines, Nam Trung Quốc, Việt Nam. Vịnh Bắc Bộ, Miền Trung, Nam Bộ.

Mẫu vật & Tài liệu

Nơi lưu trữ mẫu
Viện Hải dương học (Nha Trang).
Specimen
Institute of Oceanography (Nhatrang).
Tình trạng
Thường gặp.
Status
Common.
Tài liệu dẫn
Weber and de Beaufort, 1929. Herre, 1953. Nguyễn Nhật Thi, 1991.
Literature
Weber and de Beaufort, 1929. Herre, 1953. Nguyen Nhat Thi, 1991.

Sinh học — Sinh thái BIO

Tên tiếng Anh (FishBase)
Barramundi
English name (FishBase)
Barramundi
Chiều dài tối đa
200.0 cm TL
Max length
200.0 cm TL
Trọng lượng tối đa
60,000 g
Max weight
60,000 g
Tuổi thọ
35.0 năm
Longevity
35.0 năm
Độ sâu phân bố
10 - 40 m
Depth range
10 - 40 m
Môi trường sống
Neritic, Estuaries, Mangroves, Coral reefs, Soft bottom, Rocky
Habitat
Neritic, Estuaries, Mangroves, Coral reefs, Soft bottom, Rocky
Sách Đỏ IUCN
LC
IUCN Red List
LC
Nguy hiểm cho người
Vô hại
Danger to humans
harmless
Kiểu ăn
Săn mồi lớn (ăn thịt)
Feeding type
hunting macrofauna (predator)
Hình thức sinh sản
protandry, external fertilization
Reproduction
protandry, external fertilization
Tập hợp sinh sản
Có — tập hợp sinh sản theo đàn
Spawn aggregation
Yes — forms spawning aggregations
Giá trị thương mại
Thương mại lớn
Importance
highly commercial
Nuôi trồng thủy sản
Thương mại
Aquaculture
commercial

Ghi chú chi tiết

Tóm tắt sinh học (FishBase)(Biology summary (FishBase))

Loài cá này phân bố tại các vùng nước ven biển, cửa sông và đầm phá, trong môi trường nước từ trong đến đục. Đây là loài cá di cư giữa sông và biển (diadromous), sinh sống ở các con sông trước khi quay trở lại cửa sông để sinh sản. Cá Chẽm là loài lưỡng tính đực trước (protandrous hermaphrodite). Ấu trùng và cá con sống trong các đầm lầy nước lợ tạm thời gắn liền với cửa sông, trong khi cá lớn hơn sinh sống ở thượng nguồn các con sông. Chúng ưa thích ẩn nấp tại các bờ sông bị xói lở, các khúc gỗ chìm và thảm thực vật rủ xuống mặt nước. Thức ăn chủ yếu gồm cá và động vật giáp xác; cá con còn ăn thêm côn trùng. Trong điều kiện nuôi tối ưu, cá có thể đạt trọng lượng 1500-3000 g sau một năm. Đây là loài cá có giá trị kinh tế rất cao, được ưa chuộng và hiện đang được nuôi trồng thủy sản tại Thái Lan, Indonesia và Úc. Tại Úc, đây là loài cá thương phẩm quan trọng nhất và là đối tượng câu giải trí phổ biến nhất. Sản phẩm được bán dưới dạng cá tươi hoặc đông lạnh, chế biến bằng cách hấp, chiên, nướng hoặc đút lò.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Found in coastal waters, estuaries and lagoons, in clear to turbid water (Ref. 5259, 44894). A diadromous fish, inhabiting rivers before returning to the estuaries to spawn. A protandrous hermaphrodite (Ref. 32209). Larvae and young juveniles live in brackish temporary swamps associated with estuaries, and older juveniles inhabit the upper reaches of rivers (Ref. 6390, 44894). Have preference for cover on undercut banks, submerged logs and overhanging vegetation (Ref. 44894). Feed on fishes and crustaceans. They reach 1500-3000 g in one year in ponds under optimum conditions (Ref. 11046, 44894). Juveniles also eat insects (Ref. 44894). Sold fresh and frozen; consumed steamed, pan-fried, broiled and baked (Ref. 9987). A very popular and sought-after fish of very considerable economic importance (Ref. 9799). Presently used for aquaculture in Thailand, Indonesia and Australia (Ref. 9799). Australia's most important commercial fish and one of the most popular angling species (Ref. 44894).

Ghi chú sinh thái(Ecology notes)

Sinh sống tại các rạn san hô và đã được ghi nhận nuôi trong ruộng lúa. Trong điều kiện trại giống, ấu trùng phát triển thành cá con trong vòng 26 ngày. Sau giai đoạn ấu trùng, cá di chuyển từ bãi đẻ đến các môi trường sống nước lợ theo mùa. Ấu trùng và cá con sinh sống tại các môi trường này cũng như các dòng chảy chính của sông suối. Cá con sống trong các đầm phá nước ngọt, đầm lầy và các con lạch. Khi các môi trường sống tạm thời này khô cạn, cá con di chuyển ra dòng chính và nhiều cá thể di cư ngược dòng lên các môi trường nước ngọt vĩnh viễn. Thức ăn chủ yếu gồm cá và động vật giáp xác; cá con còn ăn thêm côn trùng. Trong điều kiện nuôi tối ưu, cá có thể đạt trọng lượng 1500-3000 g sau một năm.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Inhabits coral reefs (Ref. 58534). Recorded as having been or being farmed in rice fields (Ref. 119549). Under hatchery conditions, larvae grow to juveniles in 26 days (Ref. 28133). The postlarvae (and possibly larvae) move from spawning areas to brackish water seasonal habitat (Ref. 28131). Larval barramundi occupy these habitats as well as main channels of streams (Ref. 6390). Juveniles live in freshwater lagoons, swamps and creeks (Ref. 28131). As these temporary habitats dry up, the juveniles move into the main stream and many migrate upstream to permanent freshwater habitats (Ref. 6390). Feed on fishes and crustaceans. They reach 1500-3000 g in one year in ponds under optimum conditions (Ref. 11046, 44894). Juveniles also eat insects (Ref. 44894).

Ghi chú sinh sản(Reproduction notes)

Cá Chẽm sinh sản tại các cửa sông trên khắp khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Khi bắt đầu mùa mưa (gió mùa), cá đực trưởng thành di cư từ môi trường nước ngọt xuống hạ lưu để sinh sản với cá cái tại các cửa sông và trên các bãi triều ngoài cửa sông. Cá đẻ trứng vào kỳ trăng tròn và trăng non, chủ yếu vào đầu con nước lớn để dòng triều đưa trứng vào trong cửa sông. Đây là loài đẻ trứng phân tán (broadcast spawners) và tập trung thành đàn khi sinh sản; các điểm tập trung sinh sản thường nằm trong hoặc xung quanh cửa sông. Mặc dù cá trưởng thành và cá con có khả năng sống trong môi trường nước ngọt, nhưng nước lợ là điều kiện bắt buộc cho sự phát triển của phôi. Cá cái có khả năng đẻ số lượng trứng rất lớn, ước tính lên tới 2,3 triệu trứng trên mỗi kg trọng lượng cơ thể. Cá Chẽm là loài lưỡng tính đực trước, nghĩa là chúng trải qua quá trình chuyển đổi giới tính trong vòng đời. Cá cái thường vắng mặt ở các nhóm kích thước nhỏ nhưng chiếm ưu thế ở các nhóm kích thước lớn. Hầu hết cá Chẽm thành thục lần đầu ở giới tính đực và duy trì chức năng đực trong một hoặc nhiều mùa sinh sản trước khi chuyển đổi giới tính. Một số ít cá cái có thể phát triển trực tiếp từ cá chưa thành thục, và ngược lại, một số cá đực có thể không bao giờ trải qua quá trình chuyển đổi giới tính.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Breed in estuaries throughout the Indo-Pacific. Maturing male barramundi migrate downstream from freshwater habitats at the start of the wet (monsoon) season to spawn with resident females in estuaries (Ref. 27132) and on tidal flats outside the mouths of rivers (Ref. 6390). Barramundi spawn on the full moon and new moon, primarily at the beginning of an incoming tide which carries the eggs into the estuary (Ref. 28135). Barramundi are broadcast spawners that aggregate to spawn (Ref. 6390). Spawning aggregations occur in or around the mouths of rivers (Ref. 28132). While adults and juveniles are capable of living in fresh water, brackish waters are required for embryonic development (Ref. 6136). Female barramundi are capable of producing large numbers of eggs, with estimates as high as 2.3 million eggs per kg of body weight (Ref. 28134). Barramundi are protandrous hermaphrodites, i.e., they undergo sex reversion during their life cycle. Females are generally absent in the smaller length classes, but dominate larger length classes. Most barramundi mature first as males and function as males for one or more spawning seasons before undergoing sex inversion. A few females will develop directly from immature fish (Ref. 28132). Similarly, some males may never undergo sex inversion (Ref. 28132). Also Ref. 103751.

Danh pháp đồng nghĩa & Phân loại gốc

Holocentrus calcarifer Bloch, Naturges. Ausl. Fische 4. 1790, p. 100, pl. 244.
Holocentrus heptadactylus Lacépède, Hist. Nat. Poiss., Vol. 4, 1802, p. 344.
Coius vacti Hamilton-Buchanan, Fishes Ganges, pl. 16, p. 86, fig. 28, 1822.
Lates nobilis Cuvier and Valenciennes, Hist. Nat. Poiss., Vol. 2. 1828, p. 96.
Lates calcarifer Cuvier and Valenciennes, Vol. 2. p. 100. Richardson, 1846; Gunther, 1859; Seale, 1908; Fowler, 1918; Herre, 1941.
Plectropoma calcarifer Bleeker, Atl. Ichth., Vol. 7, 1873 - 1876, p. 109.
Lates darwiniensis Macleay, Proc. Linn. Soc. N. S. Wales, Vol. 2, 1878, p. 345.
Pseudolates cavifrons Alleyne and Macleay, Proc. Linn. Soc. New South Wales, Vol. 1, p. 262, pl. 3, 1877.