Quay lại danh sách
#126Tập 3

Cá Đục bạc

Sillago sihama (Forskal, 1775)

WoRMS — Tên hợp lệ trên WoRMS
Tên được xác nhận
Xem trên WoRMS (marinespecies.org)

Thông tin chính

Tên gọi khác
Cá Đục biển bạc, Cá Đục cát bạc
Common Name (EN)
Silver Whiting
Kích thước
110 - 160 mm. Lớn nhất 310 mm.
Size
110 - 160 mm. Maximum 310mm.

Phân bố

Australia, Ấn Độ, Hồng Hải, Madagascar, Philippines, Đài Loan, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam. Vịnh Bắc Bộ, Miền Trung, Nam Bộ.

Mẫu vật & Tài liệu

Nơi lưu trữ mẫu
Viện Hải dương học (Nha Trang).
Specimen
Institute of Oceanography (Nhatrang).
Tình trạng
Thường gặp.
Status
Common.
Tài liệu dẫn
Herre, 1953. Allen & Swainston, 1988. Thành Khánh Thái, 1962. Orsi, 1974.
Literature
Herre, 1953. Allen & Swainston, 1988. Cheng, 1962. Orsi, 1974.

Sinh học — Sinh thái BIO

Tên tiếng Anh (FishBase)
Silver sillago
English name (FishBase)
Silver sillago
Chiều dài tối đa
31.0 cm SL
Max length
31.0 cm SL
Tuổi thọ
7.0 năm
Longevity
7.0 năm
Độ sâu phân bố
0 - 60 m
Depth range
0 - 60 m
Môi trường sống
Neritic, Estuaries, Mangroves, Coral reefs, Benthic, Soft bottom
Habitat
Neritic, Estuaries, Mangroves, Coral reefs, Benthic, Soft bottom
Sách Đỏ IUCN
LC
IUCN Red List
LC
Nguy hiểm cho người
Vô hại
Danger to humans
harmless
Kiểu ăn
Săn mồi lớn (ăn thịt)
Feeding type
hunting macrofauna (predator)
Bậc dinh dưỡng
3.33
Trophic level
3.33
Hình thức sinh sản
Phân giới tính, thụ tinh ngoài
Reproduction
dioecism, external fertilization
Giá trị thương mại
Thương mại
Importance
commercial
Nuôi trồng thủy sản
Thương mại
Aquaculture
commercial

Ghi chú chi tiết

Tóm tắt sinh học (FishBase)(Biology summary (FishBase))

Loài cá này phổ biến tại các bãi biển, bãi cát, lạch rừng ngập mặn và vùng cửa sông; đôi khi được ghi nhận xuất hiện ở cả môi trường nước ngọt. Chúng có tập tính sống theo đàn. Cá trưởng thành thường vùi mình xuống cát khi bị quấy rầy. Thức ăn chủ yếu bao gồm giun nhiều tơ (polychaete), tôm he (Penaeus), các loài tôm nhỏ và giáp xác chân khác (amphipods). Loài này đẻ trứng. Giai đoạn ấu trùng và cá con sống ở tầng nổi và ăn sinh vật phù du. Cá ít khi bị đánh bắt bởi tàu lưới kéo tôm. Sản phẩm thương mại thường được tiêu thụ ở dạng tươi hoặc đông lạnh.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Common along beaches, sandbars, mangrove creeks and estuaries. Recorded from freshwater. Form schools. Adults bury themselves in the sand when disturbed (Ref. 6205, 44894). Feed mainly on polychaete worms, small prawns (<i>Penaeus</i>), shrimps and amphipods (Ref. 6226, 6227, 44894). Oviparous (Ref. 205). Larvae and juveniles are pelagic feeding on planktonic (Ref. 43081). Rarely captured by prawn trawling vessels. Marketed fresh and frozen (Ref. 9987).

Ghi chú sinh thái(Ecology notes)

Phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ, đặc biệt là các khu vực nền đáy cát tại các cửa vịnh, bãi biển, bãi cát, lạch rừng ngập mặn và cửa sông; đôi khi được ghi nhận ở môi trường nước ngọt. Loài cá sống tầng đáy này có tập tính kết đàn. Cá trưởng thành thường vùi mình xuống cát để ẩn nấp khỏi kẻ thù hoặc tìm kiếm thức ăn. Thức ăn chủ yếu gồm giun nhiều tơ, tôm he (Penaeus), các loài tôm nhỏ và giáp xác chân khác. Giai đoạn ấu trùng và cá con sống ở tầng nổi và ăn sinh vật phù du.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Found inshore (Ref. 75154). Inhabit sandy areas in sea inlets (Ref. 9137). Common along beaches, sandbars, mangrove creeks and estuaries. Recorded from freshwater. Form schools. Adults bury themselves in the sand when disturbed (Refs. 6205, 9773). Feed mainly on polychaete worms, small prawns (<i>Penaeus</i>), shrimps and amphipods (Refs. 6226, 6227, 9773). Larvae and juveniles are pelagic feeding on plankton (Ref. 43081). Benthic shoaling species. Known to burrow in the sand to feed and hide from predators (Ref. 9773).

Mô tả hình thái (GBIF)(Morphological description (GBIF))

Đặc điểm nhận dạng: Sillago sihama được phân biệt bởi các chỉ số: vây lưng XI + I, 20 – 23 tia vây; vây hậu môn II, 21 – 23 tia vây; đường bên có 66 – 74 vảy; 4 – 5 hàng vảy trên đường bên; cung mang thứ nhất có 3 – 4 + 8 – 9 lược mang; tổng số đốt sống từ 32 – 35 (thường là 35), trong đó có 12 – 15 đốt sống bụng, 5 – 10 đốt sống biến đổi và 11 – 16 đốt sống đuôi. Thân có màu nâu ở mặt lưng và ánh bạc ở mặt bụng; vùng giữa lỗ mũi sau và rìa trước trên của hốc mắt không có sắc tố; vây lưng thứ nhất có sắc tố đen ở hai màng vây đầu tiên tại các đầu gai; vây hậu môn không có đốm đen. Bong bóng cá dài với hai phần mở rộng phía trước, hai phần mở rộng phía sau không có hốc ở gốc; phần mở rộng bên trước của bong bóng kéo dài vào ống mù ngắn phía trước, ống phía sau gấp khúc, dài và phức tạp, cùng với 10 – 11 mấu bên. Hình dạng cơ thể tổng quát được thể hiện trong Hình 1 A – C. Các số liệu đếm và đo đạc được trình bày trong Bảng 2. Phân bố tần suất cho các chỉ số đếm được trình bày trong Bảng 3. Màu sắc của mẫu tươi (Hình 1 A & B): Cơ thể không có vệt, màu nâu, xám bạc hoặc nâu vàng ánh bạc ở mặt lưng, mặt bên và mặt bụng có màu bạc. Vùng giữa lỗ mũi sau và rìa trước trên của hốc mắt không có sắc tố. Vây lưng thứ nhất có sắc tố sẫm trên các màng, hai màng đầu tiên sẫm màu hơn nhiều ở các đầu gai; màng của vây lưng thứ hai có sắc tố sẫm nằm sát phía trước mỗi tia vây. Vây hậu môn có màu từ vàng nhạt đến trắng, không có đốm đen, với rìa trắng dọc theo một phần ba phía trước của vây. Vây đuôi có màu vàng nhạt, thường có màu đen dọc theo các rìa lưng và bụng của mỗi thùy. Vây ngực và vây bụng có màu vàng nhạt. Bong bóng cá (Hình 2 A & B): Bong bóng cá dài. Hai phần mở rộng phía trước được chia tách và kết thúc ở mỗi bên của xương chẩm nền phía trên bao thính giác. Một phần mở rộng bên trước bắt nguồn từ phía trước ở cả hai bên của bong bóng cá, sau đó phân nhánh thành các phần phụ trước và sau.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Diagnosis: Sillago sihama is distinguished by dorsal-fin rays XI + I, 20 – 23; anal-fin rays II, 21 – 23; 66 – 74 scales in the lateral line; 4 – 5 scales above the lateral line; 3 – 4 + 8 – 9 gill rakers on the first arch; 12 – 15 (mostly 14) abdominal, 5 – 10 (mostly 8) modified, 11 – 16 (mostly 13) caudal and 32 – 35 (mostly 35) total vertebrae. The body is brownish dorsally, silver ventrally; area between posterior nostril and dorsoanterior edge of orbit unpigmented; first dorsal fin with black pigment on first two membranes at spine tips; anal fin lacking black dots. The swimbladder is long with two anterior extensions, two posterior extensions without a lacuna at the base; the anterolateral extension of the swimbladder extends into the anterior short blind tubule and posterior one kinked, long and complex, and 10 – 11 lateral processes. The general body shape is shown in Figure 1 A – C. Counts and measurements are given in Table 2. Frequency distribution for meristic counts is given in Table 3. Color of fresh specimens (Fig. 1 A & B): The body is unmarked, brownish, silvery gray or silvery tan dorsally, silver on sides and ventrally. Area between posterior nostril and dorsoanterior edge of orbit unpigmented. First dorsal fin with some dusky pigment on the membranes, first two membranes much darker at spine tips; membranes of the second dorsal fin with dusky pigment adjacent anteriorly to each ray. The anal fin is light yellowish to whitish without black dots, with a white margin along anterior one-third of the fin. The caudal fin is light yellowish, usually blackish along dorsal and ventral edges of each lobe. Pectoral and pelvic fins are light yellowish. Swimbladder (Fig. 2 A & B): The swimbladder is long. Two anterior extensions are divided and end on each side of the basioccipital over the auditory capsule. An anterolateral extension originates anteriorly on both sides of the swimbladder and then bifurcates into anterior and posterior subextensions. The ant

Danh pháp đồng nghĩa & Phân loại gốc

Atherina sihama Forskal, Descript. Animal, p. 70, 1775.
Platycephalus sihamus Bloch & Schneider, Syst. Ichth., p. 60, 1801.
Sillago sihama Ruppell, Atlas Reise Nordl. Afrika, Fische Rothen Meeres, p. 9, pl. 3, fig. 1, 1828; Gunther, 1860; Bleeker, 1874; Peters, 1877; Klunzinger, 1879; Jordan and Seale, 1905; Fowler and Bean, 1922; Weber and de Beaufort, 1931; Herre, 1934.