Cá Phèn sọc vàng
Upeneus vittatus

Thông tin chính
Phân bố
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Loài cá có khả năng chịu đựng độ mặn rộng (Ref. 12743). Sinh sống tại các đầm phá đáy cát và vùng nước ven biển kín gió. Ngoài ra, loài này còn được tìm thấy ở các vùng đáy bùn (Ref. 5213). Đây là loài cá tầng trung - đáy (Ref. 58302), thường tập trung thành nhóm (Ref. 9710). Tại vùng biển đông bắc Ấn Độ, tỷ lệ đực/cái ghi nhận được là 1:1,5 trong hầu hết các tháng (Ref. 28761). Thức ăn chủ yếu gồm các loài giáp xác nhỏ. Cá được tiêu thụ dưới dạng cá tươi (Ref. 5284).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Euryhaline (Ref. 12743). Inhabits sandy lagoons and sheltered coastal waters. Also found over muddy bottoms (Ref. 5213). Benthopelagic (Ref. 58302). Often in groups (Ref. 9710). In the north-east coast of India, the male to female ratio was 1:1.5 in most months (Ref. 28761). Feeds primarily on small crustaceans. Marketed fresh (Ref. 5284).
Loài có khả năng chịu đựng độ mặn rộng (Ref. 12743). Phân bố tại các đầm phá đáy cát và vùng nước ven biển kín gió. Cũng được tìm thấy trên nền đáy bùn (Ref. 5213). Thường sống theo nhóm (Ref. 9710). Tại vùng biển đông bắc Ấn Độ, tỷ lệ giới tính đực/cái là 1:1,5 trong phần lớn các tháng trong năm (Ref. 28761). Thức ăn chủ yếu là các loài giáp xác nhỏ.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Euryhaline (Ref. 12743). Inhabits sandy lagoons and sheltered coastal waters. Also found over muddy bottoms (Ref. 5213). Often in groups (Ref. 9710). In the north-east coast of India, the male to female ratio was 1:1.5 in most months (Ref. 28761). Feeds primarily on small crustaceans.
Trong nghiên cứu này, tổng cộng 237 mẫu vật đã được thu thập ngẫu nhiên từ ba bến cá. Kết quả thống kê mô tả được trình bày trong Bảng 1. Các phát hiện cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về kích thước giữa sỏi tai (otolith) trái và phải của loài U. vittatus. Đối với quần thể tại Mumbai, tổng chiều dài, chiều dài sỏi tai, chiều rộng sỏi tai và trọng lượng sỏi tai lần lượt dao động trong khoảng 10,45 – 21,44 cm; 0,314 – 0,5962 cm; 0,112 – 0,398 cm và 0,0029 – 0,0089 g (Bảng 1). Đối với quần thể tại Kakinada, các chỉ số tương ứng dao động từ 11,67 – 17,52 cm; 0,334 – 0,487 cm; 0,212 – 0,304 cm và 0,0031 – 0,0075 g (Bảng 1). Tương tự, đối với quần thể tại Puri, các chỉ số này lần lượt là 11,87 – 16,59 cm; 0,327 – 0,409 cm; 0,208 – 0,272 cm và 0,002 – 0,0099 g (Bảng 1). Quần thể tại Puri có hệ số tương quan cao nhất giữa chiều dài cá và trọng lượng sỏi tai (R² = 0,9101), tiếp theo là các quần thể tại Kakinada và Mumbai (Hình 4 a, d, g). Hệ số tương quan tối đa giữa chiều dài cá và chiều rộng sỏi tai được ghi nhận ở quần thể Kakinada (R² = 0,8957), tiếp theo là các quần thể tại Odisha và Mumbai (Hình 4 b, e, h). Hệ số tương quan tối đa giữa chiều dài cá và chiều dài sỏi tai được ghi nhận ở quần thể Mumbai (R² = 0,9306), tiếp theo là các quần thể tại Odisha và Kakinada (Hình 4 c, f, i).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
In this study, a total of 237 samples were collected randomly from three landing centers. The results of the descriptive statistics are given in Table 1. The findings revealed that the left and right otoliths of U. vittatus are not significantly different in size from one another. For the Mumbai population, the total length, otolith length, otolith width and otolith weight ranged between 10.45 – 21.44 cm, 0.314 – 0.5962 cm, 0.112 – 0.398 cm and 0.0029 – 0.0089 gm, respectively (Table 1). For the Kakinada population, the total length, otolith length, otolith width, and otolith weight were ranged between 11.67 – 17.52 cm, 0.334 – 0.487 cm, 0.212 – 0.304 cm, and 0.0031 – 0.0075 gm, respectively (Table 1). Similarly, for Puri population the total length, otolith length, otolith width and otolith weight were ranged between 11.87 – 16.59 cm, 0.327 – 0.409 cm, 0.208 – 0.272 cm and 0.002 – 0.0099 gm, respectively (Table 1). Puri population had the highest correlation between fish length and otolith weight (R 2 = 0.9101), followed by Kakinada and Mumbai populations (Fig. 4 a, d, g). The maximum correlation between fish length and otolith width was observed in the Kakinada population (R 2 = 0.8957), followed by Odisha and Mumbai populations (Fig. 4 b, e, h). The maximum correlation between fish length and otolith length was observed in the Mumbai population (R 2 = 0.9306), followed by Odisha and Kakinada populations (Fig. 4 c, f, i).
