Cá Sóc sọc
Pempheris oualensis

Thông tin chính
Phân bố
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Loài này phân bố tại các vùng đầm phá nông, nước trong và các rạn san hô hướng biển, khá phổ biến dọc theo rìa rạn. Hoạt động về đêm, thức ăn chủ yếu gồm các loài giáp xác tầng đáy và sinh vật phù du, các loài động vật không xương sống nhỏ khác và cá. Ban ngày, chúng thường tập trung thành đàn trong các hang hốc. Độ sâu tối thiểu được ghi nhận theo Tài liệu tham khảo 128797.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Occurs in clear, shallow lagoon and seaward reefs, quite common along the reef margin. Feeds on benthic and planktonic crustaceans, other small invertebrates, and fishes at night. By day, it forms aggregations in caves. Minimum depth reported taken from Ref. 128797.
Phân bố ở vùng ven bờ (Tài liệu tham khảo 75154). Thường gặp tại các vùng đầm phá nông, nước trong và các rạn san hô hướng biển, khá phổ biến dọc theo rìa rạn. Thức ăn bao gồm động vật đáy, động vật phù du và sinh vật bơi lội (nekton) (Tài liệu tham khảo 275).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Occurs inshore (Ref. 75154). Occurs in clear, shallow lagoon and seaward reefs, quite common along the reef margin. Feeds on benthic animals, zooplankton and nekton (Ref. 275).
Chẩn loại: Số liệu đếm của mẫu chuẩn (holotype) và các mẫu không phải mẫu chuẩn được trình bày trong Bảng 2 của Koeda và cộng sự (2010a). Tia vây lưng VI, 9 – 10; tia vây hậu môn III, 38 – 46; tia vây ngực 17 – 19; vảy đường bên có lỗ 60 – 72; hàng vảy trên đường bên 5 1/2 – 7 1/2, thường là 6 1/2; hàng vảy dưới đường bên 13 – 17; vảy trước vây lưng 33 – 44; vảy cuống đuôi 18 – 22; lược mang 8 – 9 + 20 – 22 = 28 – 31; chiều dài đầu chiếm 27,7 – 31,5% chiều dài chuẩn (SL); chiều cao thân chiếm 40,9 – 48,2% SL; đường kính mắt chiếm 36,4 – 43,9% chiều dài đầu; chiều dài hàm trên chiếm 50,0 – 56,0% chiều dài đầu; kích thước tối đa 208 mm SL, thường dưới 180 mm SL; vảy lược yếu, dễ rụng, mỏng, hình bán nguyệt, chiều rộng lớn hơn nhiều so với chiều dài (Koeda và cộng sự 2013a: hình 2a); thân màu bạc; có đốm đen rõ rệt ở gốc vây ngực; mép trước vây lưng có dải màu đen; gốc vây hậu môn có dải màu đen, đôi khi có dải đen ở mép vây; mép trên vây ngực có màu tối; ở các cá thể lớn, dải răng dạng nhung kéo dài ra ngoài môi; mặt cắt ngang vùng bụng có hình chữ V.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Diagnosis. Counts of holotype and non-types are given in Table 2 of Koeda et al. (2010 a). Dorsal-fin rays VI, 9 – 10; anal-fin rays III, 38 – 46; pectoral-fin rays 17 – 19; pored lateral-line scales 60 – 72; scale rows above lateral line 5 1 / 2 – 7 1 / 2, usually 6 1 / 2; scale rows below lateral line 13 – 17; predorsal scales 33 – 44; circumpeduncular scales 18 – 22; gill rakers 8 – 9 + 20 – 22 = 28 – 31; head length 27.7 – 31.5 %; body depth 40.9 – 48.2 %; eye diameter 36.4 – 43.9 %; upper jaw length 50.0 – 56.0 %; maximum 208 mm SL, usually <180 mm SL; scales weakly ctenoid, deciduous, thin, semicircular in shape, far wider than long (Koeda et al. 2013 a: fig. 2 a); body silver; distinct blackish blotch on pectoral-fin base; anterior margin of dorsal fin zonally blackish; blackish band on anal-fin base with rarely blackish band on its margin; upper margin of pectoral fin dusky; villiform tooth band extending outside lips on large specimen; abdomen cross-sectional outline V-shaped.
