Cá Bò Vẩy Nâu Vàng
Pseudobalistes flavimarginatus

Thông tin chính
Mô tả hình thái
Sinh thái & Dinh dưỡng
Phân bố
Giá trị kinh tế
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Phân bố từ vùng ven bờ đến các rạn san hô phía trong và vùng nước lợ cửa sông, thường sống ở những nơi có nền đáy bùn cát. Được tìm thấy ở sườn và nền đầm phá, cũng như các rạn san hô. Thường sống đơn độc hoặc theo cặp. Cá non tập trung thành các nhóm nhỏ khi phổ biến, trong khi cá trưởng thành thường sống đơn độc, ngoại trừ mùa làm tổ khi cá đực tập trung tại các bãi cát nằm cạnh rạn san hô. Thức ăn bao gồm đầu ngọn các nhánh san hô, ốc chân bụng, động vật giáp xác, trùng lỗ, hải tiêu và cả cầu gai. Là loài đẻ trứng. Cá cái bảo vệ tổ có tính hung dữ. Cũng bị đánh bắt bằng lưới quây. Được thương mại dạng tươi sống và khô muối. Có thể gây ngộ độc ciguatera ở một số khu vực. Độ sâu phân bố tối đa được ghi nhận từ tài liệu tham khảo.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Inhabits coastal to inner reefs and estuaries, often in silty habitats (Ref. 48637). Found on lagoon slope and floor (Ref. 30573), also coral reefs. Generally solitary or in pairs (Ref. 4420). Young form small aggregations when common while adults are usually seen solitary, except when nesting and males congregate on certain sand flats adjacent to reefs (Ref. 48637). Feeds on tips of coral branches, gastropods, crustaceans, foraminiferans, and tunicates (Ref. 1602) and also on sea urchins (Ref. 9770). Oviparous (Ref. 205). Nest-guarding females are aggressive (Ref. 9770). Also caught with drive-in nets. Marketed fresh and dried-salted (Ref. 9770). Ciguatoxic in certain areas (Ref. 37816). Maximum depth reported taken from Ref. 128797.
Cá đực di cư đến bãi đẻ truyền thống, nơi chúng thiết lập lãnh thổ bao gồm các vị trí làm tổ và buồng trứng. Việc làm tổ diễn ra ở các luồng đáy cát và các khe cạn xuyên qua rạn san hô chắn bờ. Tổ là các hố lõm rộng tới 2 m và sâu 0,7 m. Cá cái đến sau đó vài ngày và chọn cá đực để giao phối. Thể hiện tập tính chăm sóc con cái từ cả bố lẫn mẹ. Có thể có tới 430.000 trứng hoặc nhiều hơn được đẻ thành một cụm xốp có kích thước bằng nắm tay, được giữ nặng bởi các mảnh vụn san hô. Cá đực thiết lập lãnh thổ để sinh sản và chăm sóc con cái chứ không phải để kiếm ăn. Chỉ cá cái chăm sóc trứng nhưng cả cá bố và cá mẹ đều tham gia canh gác.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Males migrate to a traditional spawning ground where they establish territories enclosing nest sites and egg chambers (Ref. 9777). Nesting occurs in sand-bottomed channels and shallow cuts through the barrier reef (Ref. 9778, 37816). The nest consist of depressions up to 2 m wide and 0.7 m deep (Ref. 9778, 37816). Females arrive several days later and select a male for mating (Ref. 9777). Exhibit biparental care (Ref. 9777). Up to 430,000 or more eggs may be deposited in a spongy fist-sized cluster weighted down with pieces of rubble (Ref. 9778, 37816). Males establish a territory for spawning and parental care but not for feeding (Ref. 116451). Only females tend the eggs but both parents keep guard (Ref. 116451).
