Cá Nhái Miệng Đen
Lophiomus setigerus

Thông tin chính
Mô tả hình thái
Sinh thái & Dinh dưỡng
Phân bố
Giá trị kinh tế
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Phân bố trên nền đáy bùn cát (Ref. 11230). Loài đẻ trứng (Ref. 205), đẻ nhiều đợt trong năm (Ref. 32832). Độ sâu phân bố tại Biển Hoa Đông và Hoàng Hải từ 30-500 m (Ref. 11230).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Found on sandy mud bottom (Ref. 11230). Oviparous (Ref. 205), multiple spawner (Ref. 32832). Depth range in the East China Sea and the Yellow Sea is between 30-500 m (Ref. 11230)
Sinh sống ở thềm lục địa và sườn lục địa (Ref. 75154).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Found on the continental shelf and slope (Ref. 75154).
Đẻ trứng (Ref. 205).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Oviparous (Ref. 205).
Chẩn loại Loài này có thể phân biệt với các loài khác trong cùng chi qua sự kết hợp của các đặc điểm: vây lưng có 6 gai, tia vây bụng phần lớn gồm 7 tia, tia vây ngực từ 21 – 23 tia (phần lớn là 22 tia; Bảng 6), cơ thể có màu nâu, phúc mạc có sắc tố xám, và khoang miệng có nền sẫm màu với các hoa văn sáng màu hình tròn hoặc không đều. Gen giả (pseudogene) đã được phát hiện từ vùng mã vạch DNA (COI-5P) của gen COI ở loài Lophiomus setigerus thực sự bằng cặp mồi FishF1 – FishR1 (Ward và tgv. 2005) và bộ mồi hỗn hợp C_VF1LFt1 – C_VR1LRt (Ivanova và tgv. 2007), với codon dừng xuất hiện tại vị trí axit amin 27 trong mẫu WJC0905 (vị trí nucleotide 79 – 81 là 'AGG', nhưng thông thường là 'GGA'), và vị trí 79 trong các mẫu WJC0905, CFCS006-08, CFCS007-08, CFCS138-08, và CFCS139-08 (vị trí nucleotide 235 – 237 là 'AGG', nhưng thông thường là 'GGG' hoặc 'GGC') trong tập dữ liệu COI của nghiên cứu này (Tệp bổ sung 3). Số thứ tự vị trí được tính từ vị trí axit amin hoặc nucleotide đầu tiên của gen. Chẩn loại phân biệt Lophiomus setigerus rất giống với loài chị em Lm. immaculioralis sp. nov. ở đặc điểm thân có màu nâu và số lượng tia vây ngực. Tuy nhiên, loài này khác biệt bởi số lượng gai vây lưng cao hơn (6 gai so với 5 gai ở loài Lm. immaculioralis), cơ quan mồi (esca) có hình cờ là chủ yếu (thùy dạng tua ở loài Lm. immaculioralis), phúc mạc có sắc tố xám (không có sắc tố sẫm hoặc xám ở loài Lm. immaculioralis), và sàn miệng sẫm màu với các hoa văn sáng hình tròn hoặc không đều (không có các vạch sẫm rõ ràng ở loài Lm. immaculioralis). Chẩn loại phân tử được trình bày chi tiết trong phần chẩn loại phân biệt của loài Lm. immaculioralis. Loài này cũng có những điểm tương đồng với loài mới được mô tả Lm. carusoi sp. nov. về màu sắc thân nâu nhưng khác biệt ở số lượng tia vây ngực thấp hơn (21 – 23, phần lớn là 22 so với 23 – 24 ở loài Lm. carusoi; Bảng 6), chiều rộng đầu (HW) hẹp hơn (37,4 – 59,2 % chiều dài đầu so với 58,1 – 68,6 % chiều dài đầu ở Lm. carusoi sp. nov.; Bảng 4), khoảng cách gian gai sống lưng (ISP) hẹp hơn (33,0 – 49,0 % chiều dài đầu so với 48,6
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Diagnosis This species can be separated from other congeners by the combination of dorsal-fin spines 6, pelvic-fin rays mostly 7, pectoral-fin rays 21 – 23 (mostly 22; Table 6), brown body coloration, peritoneum with gray pigmentation, and circular or irregular light pattern on the dark floor of the mouth. Pseudogene was detected from the DNA barcode region (COI- 5 P) of COI gene in real Lm. setigerus by primer pair FishF 1 – FishR 1 (Ward et al. 2005) and cocktail primers C _ VF 1 LFt 1 – C _ VR 1 LRt (Ivanova et al. 2007), with stop codon occurring at amino acid position 27 in sample WJC 0905 (nucleotide position 79 – 81 ‘ AGG’, but ‘ GGA’ normally), and position 79 in samples WJC 0905, CFCS 006 - 08, CFCS 007 - 08, CFCS 138 - 08, and CFCS 139 - 08 (nucleotide position 235 – 237 ‘ AGG’, but ‘ GGG’ or ‘ GGC’ normally) in the COI dataset in this study (Supp. file 3). Numbering of the position starts from the first amino acid or nucleotide site of the gene. Differential diagnosis Lophiomus setigerus is most similar to its sibling species Lm. immaculioralis sp. nov. in the brown body coloration and pectoral-fin ray counts. However, it differs by having a higher count of dorsal-fin spines (6 vs 5 in Lm. immaculioralis), an esca that is mostly pennant-like (tassel-like flap in Lm. immaculioralis), peritoneum with gray pigmentation (lacking dark or gray pigmentation in Lm. immaculioralis), and a dark floor of the mouth with circular or irregular light patterns (absence of distinct dark markings in Lm. immaculioralis). The molecular diagnosis is elaborated in the differential diagnosis section of Lm. immaculioralis. This species also shares similarities with the newly described species Lm. carusoi sp. nov. in the brown body coloration but differs in having lower counts of dorsal-fin spines (21 – 23, mostly 22 vs 23 – 24 in Lm. carusoi; Table 6), a narrower HW (37.4 – 59.2 % HL vs 58.1 – 68.6 % HL in Lm. carusoi sp. nov.; Table 4), a narrower ISP (33.0 – 49.0 % HL vs 48.6
