Loài cá Mao Tiên Sọc Lệch
Minous trachycephalus

Thông tin chính
Mô tả hình thái
Sinh thái & Dinh dưỡng
Phân bố
Giá trị kinh tế
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Phân bố trên nền đáy mềm (Ref. 39597) của thềm lục địa. Là loài cá sống ở tầng đáy (Ref. 75154). Loài có tập tính ẩn náu, thường chỉ vô tình phát hiện được. Vùi mình trong cát vào ban ngày. Thường sống ở các sinh cảnh nông, kín gió có thảm cỏ biển thưa thớt. Nằm phơi mình trên mặt cát vào ban đêm (Ref. 48635). Cũng được tìm thấy trên nền đáy cát hoặc bùn ở độ sâu 10-50 m (Ref. 90102).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Occurs over soft bottoms (Ref. 39597) of the continental shelf. Benthic (Ref. 75154). Secretive species, usually found by accident. Buries itself in the sand during the day. Usually in shallow sheltered habitats with sparse seagrass beds. Sits on top of the sand at night (Ref. 48635). Also found in sand or mud bottoms in 10-50 m (Ref 90102).
Occurs over soft bottoms (Ref. 39597) of the continental shelf. Benthic (Ref. 75154). Secretive species, usually found by accident. Buries itself in the sand during the day. Usually in shallow sheltered habitats with sparse seagrass beds. Sits on top of the sand at night (Ref. 48635). Also found in sand or mud bottoms in 10-50 m (Ref 90102).
Xem bản dịch tiếng Việt (tham khảo)
Chẩn loại. Một loài thuộc chi Minous được phân biệt với các loài cùng chi khác qua sự kết hợp các đặc điểm sau: gai vây lưng thứ nhất ngắn hơn nhiều so với gai vây lưng thứ hai, gốc của chúng nằm sát nhau; tia vây lưng X hoặc XI, 9 – 11 (phổ biến là XI, 10), tổng số tia vây 20 – 23 (21); tia vây hậu môn I – III, 7 – 9 (II, 8), tổng số tia vây 9 – 11 (10); gai xương lệ trước và sau sắc nhọn, đầu gai trước chếch về phía trước - bụng, đầu gai sau thường chếch về phía bụng đến sau - bụng (góc so với trục nằm ngang của đầu và thân có thể thay đổi) nhưng không bao giờ cong về phía trước - bụng như ở loài M. roseus; thân có màu xám ở mặt lưng (Hình 14, 15), không có các sọc xiêm xen kẽ tối và sáng; bề mặt trong của vây ngực có nhiều đốm màu vàng tươi viền tối (màu trắng ở mẫu vật ngâm bảo quản) ở phần gốc, tạo thành dạng hình lục giác khi cá còn tươi, phần rìa ngoài chủ yếu có màu vàng (màu trắng) khi cá còn tươi (Hình 13 E, 16); lỗ tuyến phía trên gốc vây ngực có hoặc không có vạt da ngắn, tù và tròn.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Diagnosis. A species of Minous distinguished from other congeners by the following combination of characters: 1 st dorsal-fin spine much shorter than 2 nd dorsal-fin spine, their bases close together; dorsal-fin rays X or XI, 9 – 11 (modally XI, 10), total rays 20 – 23 (21); anal-fin rays I – III, 7 – 9 (II, 8), total rays 9 – 11 (10); anterior and posterior lacrimal spines sharp, anterior spine tip canted anteroventrally, posterior spine tip usually canted ventrally to posteroventrally (angle to horizontal axil of head and body variable) but never curved anteroventrally as in M. roseus; body grayish dorsally (Figs. 14, 15), without oblique alternating dark and light stripes; pectoral fin inner surface with many dark bordered bright yellow (whitish in preserved specimens) blotches basally, forming somewhat hexagonal pattern when fresh, distal portion largely yellow (whitish) when fresh (Figs. 13 E, 16); pore above pectoral-fin base with or without short blunt rounded skin flap.
