Cá Bơn Vằn Răng To
Pseudorhombus arsius

Thông tin chính
Mô tả hình thái
Sinh thái & Dinh dưỡng
Phân bố
Giá trị kinh tế
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Phân bố ở vùng nước nông và vùng cửa sông, trên nền đáy bùn và cát, với độ sâu tới 200 m (Ref. 30573). Cá con thường xuất hiện ở vùng nước lợ (Ref. 9774). Thức ăn chủ yếu gồm các loài động vật đáy (Ref. 5213). Chủ yếu được tiêu thụ dạng tươi sống (Ref. 9774).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Found in shallow waters and estuaries, on mud and sand bottoms, to depths of 200 m (Ref. 30573). Juveniles common in brackish water (Ref. 9774). Feeds on benthic animals (Ref. 5213). Mainly sold fresh (Ref. 9774).
Là loài rộng muối. Ưa sống trên nền đáy bùn, cát hoặc sỏi. Cá con có thể sử dụng rộng rãi các vùng cửa sông và sinh sống trong các đầm lầy rừng ngập mặn. Cả cá con và cá trưởng thành đều có thể tìm thấy ở vùng gian triều, trên nền đáy bùn, cát và gần các thảm rừng ngập mặn, thảm cỏ biển (Ref. 121944). Sống ở các tầng nền bùn nông, nơi chúng vùi mình vào bùn hoặc cát, chỉ để lộ đôi mắt. Là loài săn mồi kiểu phục kích. Thức ăn gồm cua, giun biển và các loài cá nhỏ. Ấu trùng có hình dạng giống cá đối xứng thông thường và sống ở cột nước. Cuối cùng, mắt phải di chuyển sang phía bên trái và hộp sọ xoắn lại khi chúng chuyển sang giai đoạn trưởng thành sống ở tầng đáy (Ref. 9773).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Euryhaline species. Prefers muddy, sandy or gravel bottom. Juveniles can make extensive use of estuaries and inhabit mangrove swamps. Both juveniles and adults can be found in the intertidal, on muddy and sandy bottoms and near mangrove and seagrass beds (Ref. 121944). Dwells in shallow, muddy substrates where it burrows into mud or sand, leaving only its eyes exposed. Ambush predator. Feeds on crabs, marine worms, and small fishes. Larvae resemble regular fishes and inhabits the water column. Eventually, its right eye migrates towards the left side and its skull twists as it transforms into its benthic adult stage (Ref. 9773).
Ghép đôi rõ rệt (Ref. 205).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Distinct pairing (Ref. 205).
Chẩn loại: Loài này được nhận diện bởi sự hiện diện của đường bên ở cả hai phía cơ thể, với vảy lược ở phía có mắt và vảy tròn ở phía mù (không có mắt). Phía có mắt có hai đốm đen hình mắt kính nằm trên đường bên. Khi còn sống, có thể thấy rõ nhiều đốm mờ màu trắng lục. Hàm dưới có từ 10 – 12 chiếc răng. Ở phía mù, nếu kéo dài phần thẳng của đường bên về phía trước, đường này sẽ nằm phía trên mắt trên. Tổng số đốt sống: 34 – 35. Chi tiết về tỷ lệ cơ thể và các chỉ số hình thái - đếm được được trình bày trong (Bảng 1 – 2). Màu sắc: Toàn thân có màu nâu kem. Phía mù có màu trắng. Phía có mắt có hai đốm đen hình mắt kính nằm trên đường bên; một đốm nằm ngay tại điểm giao giữa phần cong và phần thẳng của đường bên, đốm còn lại nằm ở khoảng một phần ba chiều dài cơ thể trên mép trên của đường bên. Trên phía có mắt có nhiều đốm mờ, màu sắc biến đổi từ xanh nhạt đến trắng đục. Màu sắc này thay đổi sau 2 đến 3 giờ khi cá chết hoặc được ngâm bảo quản. Một số lượng ít tế bào sắc tố đen (melanophore) nhỏ xuất hiện rải rác trên toàn bộ cơ thể cũng như trên các vây lưng, vây hậu môn, vây đuôi và vây ngực.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Diagnosis: The species can be diagnosed by having lateral line on both sides, with ctenoid scales on the eyed side and cycloid scales on the blind side. The eyed side has two eye-like dark spots on the lateral line. Numerous greenish-white cloudy spots are visible in live. The teeth on the lower jaw are 10 – 12. On blind side if the straight part of the lateral line extended forward, it passes well above upper eye. Total vertebrae: 34 – 35. The details of body ratio and morpho-meristic counts are given in (Table 1 – 2). Colour: The whole body is creamy brown in colour. The blind side of the body is white in colour. There are two dark, eye-like black spots on the eyed side lateral line. One is just at the junction of curved and straight part of LL, and the other one is just at the one-third portion of the body on the upper edge of lateral line. There are numerous cloudy spots on the eyed side, which colour varies from light green to dark whitish. This colouration changes after 2 to 3 hours of death or preservation. A few black small melanophores are visible in whole body and as well as in dorsal, anal, caudal and pectoral fins.
