Cá Mó tỉêm
Leptoscarus vaigiensis

Thông tin chính
Phân bố
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Loài cá này thường được tìm thấy tại các vịnh kín gió, bến cảng và đầm phá (Ref. 48636). Chúng sinh sống ở các thảm cỏ biển hoặc những khu vực có nền đáy cứng phủ dày tảo. Cá thường xuất hiện theo nhóm nhỏ. Khác với các loài cá mó khác, cá đực và cá cái có hình thái rất giống nhau và không có khả năng chuyển đổi giới tính (Ref. 48636). Thức ăn chủ yếu là cỏ biển và tảo (Ref. 30573). Loài này được tiêu thụ dưới dạng cá tươi (Ref. 5284).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Found in sheltered bays, harbors and lagoons (Ref. 48636). Inhabits seagrass areas or areas with hard substrates heavy with algal cover. Usually occur in small groups. Unlike other parrotfishes, males and females look very similar and do not change sex (Ref. 48636). Feeds on seagrasses and algae (Ref. 30573). Marketed fresh (Ref. 5284).
Phân bố ở vùng ven bờ (Ref. 75154). Sinh sống tại các thảm cỏ biển hoặc các khu vực có nền đáy cứng phủ dày tảo (Ref. 30573). Cá hiện diện tại các thảm cỏ biển trong suốt mọi giai đoạn phát triển (Ref. 41878). Thức ăn chủ yếu là cỏ biển và tảo (Ref. 30573). Tại đảo Inhaca, loài này được ghi nhận là sinh vật bám trên cỏ biển, do đó việc tiêu thụ bọt biển và các loài Hydrozoa không xác định có thể là vô tình trong quá trình ăn cỏ biển (Ref. 42227). Tại vịnh Nakagusuku, đảo Okinawa, tất cả cá ấu trùng có chiều dài chuẩn (SL) từ 1,0-1,5 cm chỉ ăn động vật phù du Copepoda. Thành phần thức ăn thay đổi từ Copepoda ở giai đoạn ấu trùng sau uốn cong và cá con (SL 1,0-1,5 cm) sang rong biển ở giai đoạn cá con (SL 1,5-2,5 cm) (Ref. 54487). Đối với cá trưởng thành và cá non có chiều dài trên 2,5 cm, thức ăn chuyển sang chủ yếu là các loài rong mơ Sargassum trôi nổi (Ref. 54487).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Occurs inshore (Ref. 75154). Inhabits seagrass areas or areas with hard substrates heavy with algal cover (Ref. 30573). Present in seagrass beds at all life stages (Ref. 41878). Feeds on seagrasses and algae (Ref. 30573). Inhaca Island is a seagrass epibiont so it is possible that its ingestion of sponge and unidentified Hydrozoa are unintentional along with the seagrass (Ref. 42227). In Nakagusuku Bay, Okinawa Island, all larvae ranging from 1.0-1.5 cm SL, fed only on planktonic copepods. Food shifted from planktonic copepods in postflexion larvae and juvenile ranging from 1.0-1.5 cm SL to seaweed in the juvenile ranging from 1.5-2.5 cm SL (Ref. 54487). Food shifts in adult and young over 2.5 cm SL to feed almost exclusively on drifting <i>Sargassum</i> spp. (Ref. 54487).
Cá đẻ trứng ở vùng nước nông phía trên các thảm cỏ biển khi thủy triều rút. Các nghiên cứu về đặc điểm giới tính trên các mẫu vật lớn cho thấy loài này có giới tính phân hóa ổn định (không xảy ra hiện tượng chuyển đổi giới tính), đây là loài cá mó đầu tiên được ghi nhận có đặc điểm này (Ref. 1875, Ref. 103751).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Spawns in shallow water above grassflats on the falling tide. Investigation of sexual identity of large samples suggest the species is gonochoristic (sex-reversal do not occur), the first sparid species known to be so (Ref. 1875). Also Ref. 103751.
