Cá Bàng Chài Công
Iniistius pavo

Thông tin chính
Phân bố
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Thường sống đơn độc tại các đầm phá và khu vực rạn san hô hướng ra biển, nơi có nền đáy cát từ mịn đến thô (Ref. 1602). Cá con đôi khi xuất hiện ở các vùng cửa sông nông (Ref. 48636). Cá trưởng thành hiếm khi được tìm thấy ở độ sâu dưới 20 m (Ref. 9710). Loài này sống ở tầng đáy và tầng trung - đáy (Ref. 58302). Cá có tập tính vùi mình vào cát để ngủ an toàn vào ban đêm hoặc để ẩn nấp khi bị đe dọa (Ref. 9311, 90102). Thức ăn chủ yếu là các loài động vật không xương sống có vỏ cứng, bao gồm động vật thân mềm và giáp xác (Ref. 9311). Cá con có tập tính ngụy trang giống lá cây khô trôi dạt bằng cách hướng phần vây lưng tách rời, kéo dài về phía trước đầu. Thịt cá ngon, màu trắng (Ref. 7364). Độ sâu tối thiểu được ghi nhận từ Ref. 27115.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Usually solitary in lagoon and seaward reef areas with fine to loose, coarse sand bottoms (Ref. 1602). Juveniles sometimes in shallow estuaries (Ref. 48636). Adults rare in less than 20 m (Ref. 9710). Benthic and benthopelagic (Ref. 58302). Dives into sand to sleep safely at night or to hide when alarmed (Ref. 9311, 90102). Feed on hard-shelled invertebrates, including mollusks and crustaceans (Ref. 9311). Juveniles mimic drifting dead leaves by holding the elongate detached front part of dorsal fin forward over head. Good to eat, flesh very white (Ref. 7364). Minimum depth reported from Ref. 27115.
Loài thường sống đơn độc tại các đầm phá và khu vực rạn san hô hướng ra biển với nền đáy cát từ mịn đến thô (Ref. 1602). Cá con đôi khi xuất hiện ở các vùng cửa sông nông (Ref. 48636). Cá trưởng thành hiếm khi được tìm thấy ở độ sâu dưới 20 m (Ref. 9710). Cá vùi mình vào cát khi bị đe dọa. Thức ăn chủ yếu là các loài động vật không xương sống có vỏ cứng, bao gồm động vật thân mềm và giáp xác (Ref. 9311). Đây là loài ăn các động vật không xương sống di động (Ref. 57615). Cá con ngụy trang giống lá cây khô trôi dạt bằng cách hướng phần vây lưng tách rời, kéo dài về phía trước đầu.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Species usually solitary in lagoon and seaward reef areas with fine to loose, coarse sand bottoms (Ref. 1602). Juveniles sometimes in shallow estuaries (Ref. 48636). Adults rare in less than 20 m (Ref. 9710). Dive into the sand when threatened. Feed on hard-shelled invertebrates, including mollusks and crustaceans (Ref. 9311). Mobile-invertebrate feeder (Ref. 57615). Juveniles mimic drifting dead leaves by holding the elongate detached front part of dorsal fin forward over head.
Có tập tính bắt cặp rõ rệt trong mùa sinh sản (Ref. 205).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Distinct pairing during breeding (Ref. 205).
Tên gọi: Cá Bàng Chài Công. Kích thước tối đa đạt 41 cm (16,1 inch) tổng chiều dài (Lieske và Myers 2002). Phân bố tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương; phía tây Thái Bình Dương ngược lên phía bắc đến Nhật Bản (Yamakawa trong Masuda và cộng sự, 1984); từ Punta Rosarito (28°34' N), trung tâm Baja California (Rodríguez-Romero và cộng sự, 1993) đến Colombia (Robertson và Allen 2015), bao gồm phía tây nam và trung tâm phía đông vịnh California (Robertson và Allen 2002), quần đảo Galápagos (Grove và Lavenberg 1997) và nhiều đảo xa bờ khác (Robertson và Allen 2002). Độ sâu phân bố: 1 – 138 m (3 – 453 ft) (tối thiểu: Fricke và cộng sự, 2019; tối đa: Weijerman và cộng sự, 2019).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Pacific Razorfish, Pavo Razorfish, Peacock Razorfish, or Peacock Wrasse. To 41 cm (16.1 in) TL (Lieske and Myers 2002). Indo-Pacific; western Pacific Ocean north to Japan (Yamakawa in Masuda et al. 1984); Punta Rosarito (28 ° 34 ’ N), central Baja California (Rodríguez-Romero et al. 1993) to Colombia (Robertson and Allen 2015), including south-western and central eastern Gulf of California (Robertson and Allen 2002), Islas Galápagos (Grove and Lavenberg 1997), and many other offshore islands (Robertson and Allen 2002). Depth: 1 – 138 m (3 – 453 ft) (min.: Fricke et al. 2019; max.: Weijerman et al. 2019).
