Cá Thù Lù
Zanclus cornutus

Thông tin chính
Phân bố
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Cá trưởng thành sinh sống tại các đầm phá nội vùng có độ đục cao, các bãi rạn san hô, cũng như các rạn đá và rạn san hô ngoài khơi có nước trong. Loài này thuộc nhóm cá tầng trung - đáy. Thông thường bắt gặp chúng theo nhóm nhỏ từ 2 đến 3 cá thể. Cá trưởng thành có thể sống đơn độc, theo cặp hoặc đôi khi kết đàn lớn. Thức ăn chủ yếu là các loài động vật nhỏ bám dính. Kích thước chuyển đổi từ giai đoạn hậu ấu trùng sang cá con là 7,5 cm. Giai đoạn ấu trùng sống ở tầng nổi kéo dài là nguyên nhân dẫn đến sự phân bố rộng khắp và màu sắc đặc trưng không có sự biến đổi theo địa lý. Đây là loài cá cảnh phổ biến nhưng rất khó nuôi sống trong bể nuôi.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Adults inhabit turbid inner lagoons, reef flats, and clear seaward rocky and coral reefs (Ref. 1602, 48637). Benthopelagic (Ref. 58302). Generally encountered in small groups of 2 or 3 individuals (Ref. 9267). Adults occur singly, in pairs and occasionally are seen in large schools (Ref. 48637). They feed on small encrusting animals (Ref. 6113). Size of metamorphosis from postlarva to juvenile is 7.5 cm (Ref. 9267). The long pelagic larval stage is the reason for the wide distribution and strong colouration that shows no geographical variation (Ref. 48637). Popular aquarium fish but rarely survives in tanks (Ref. 1602). Minimum depth reported taken from Ref. 128797.
Sinh sống tại các đầm phá nội vùng có độ đục cao, các bãi rạn san hô, cũng như các rạn đá và rạn san hô ngoài khơi có nước trong. Thường bắt gặp theo nhóm nhỏ từ 2 đến 3 cá thể. Cá trưởng thành sống đơn độc, theo cặp hoặc đôi khi kết đàn lớn. Thức ăn chủ yếu gồm bọt biển và các loài động vật nhỏ bám dính. Đây là loài chuyên ăn các động vật không xương sống cố định.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Inhabits turbid inner lagoons, reef flats, and clear seaward rocky and coral reefs (Ref. 1602, 48637). Generally encountered in small groups of 2 or 3 individuals (Ref. 9267). Adults occur singly, in pairs and occasionally are seen in large schools (Ref. 48637). Feeds mainly on sponges (Ref. 59308) and small encrusting animals (Ref. 6113). Sessile invertebrate feeder (Ref. 57615).
Tên thông thường: Cá Thù Lù (Moorish Idol). Đặc điểm chẩn loại: Vây lưng (D): VII + 42; Vây hậu môn (A): III + 33; Vây ngực (P): 19; Vây bụng (V): I + 5; Lược mang (GR): 10. Thân rất cao và dẹp bên. Chiều cao thân bằng 0,82 – 0,88 chiều dài chuẩn (SL). Mõm hẹp và nhô ra, chiều dài mõm bằng 3,65 – 4,10 chiều dài đầu (HL). Miệng nhỏ với các răng mảnh xếp thành một hàng. Có một mấu xương nhô ra phía trước mắt. Gai vây lưng thứ nhất rất dài và dạng sợi. Mõm nhô, xương tiền hàm có thể co duỗi. Không có gai và gờ bên trên cuống đuôi. Trên thân có các dải dọc màu đen. Màu sắc: Phần trước cơ thể màu trắng, phần sau màu vàng, xen kẽ với các dải dọc rộng màu trắng và 2 dải dọc rộng màu đen. Dải đen thứ nhất bao quanh vùng mắt, mở rộng về phía bụng bao phủ phần ngực, vây bụng và một nửa phần bụng. Dải đen thứ hai nằm ở nửa sau cơ thể, viền phía sau bởi các đường màu trắng và đen, kéo dài vào cả vây lưng và vây hậu môn. Trên mõm có một vệt màu cam hình yên ngựa viền đen; cằm màu đen; vây đuôi chủ yếu màu đen bao gồm cả dải đen thứ ba, mép sau vây đuôi có dải màu trắng; vây lưng màu trắng ngoại trừ phần trên của dải đen thứ hai và một vùng màu vàng phía sau nó. Phân bố: Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Từ Đông Phi đến quần đảo Rapa và Ducie, phía bắc đến miền nam Nhật Bản và quần đảo Hawaii, phía nam đến đảo Lord Howe. Đông Thái Bình Dương: Từ phía nam vịnh California đến Peru. Tại vùng biển ven bờ Ấn Độ, loài này trước đây đã được ghi nhận tại quần đảo Andaman và Nicobar, Tamil Nadu, Kerala, Karnataka.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Common name: Moorish Idol 1758. Linnaeus, Systema Naturae, Ed. X. (Systemanaturae per regna trianaturae, secundum classes, ordines, genera, species, cum characteribus, differentiis, synonymis, locis. Tomus I. Editiodecima, reformata) Holmiae. v. 1: i-ii + 1 - 824. Material examined: Two specimens; SL 90 – 148 mm; location: Digha Mohana, collection date: July 21, 2018 (MARC / ZSI / F 8358); Chandipur, collection date: July 5, 2013, (MARC / ZSI / F 3800). Diagnostic characters: D: VII + 42, A: III + 33, P: 19, PL / V: I + 5, GR: 10. Body very deep and compressed (Fig. 2). Its depth 0.82 – 088 mm in SL. Snout narrow and protruding, its length 3.65 – 4.10 mm in HL. Mouth small with slender and uniserial teeth. A bony projection present in front of eye. First dorsal spine extremely long and filamentous. Snout protruding and its pre-maxilla protractile. Caudal spine and keels absent on caudal peduncle. Dark black vertical bands present on body. Colour: Body anteriorly white, posteriorly yellow, with alternate transverse broad white and 2 broad black vertical bands present. The first black band nearly encloses eyes in its anterior part and broadens ventrally to include the chest, pelvic fins, and half of the abdomen. Second black band is on the posterior half of the body, edged posteriorly with single white and black lines, and extends into both dorsal and anal fins. A black-edged orange saddle-like marking present on snout; chin black; caudal fin largely black incorporating a 3 rd black band, its posterior margin is with white band; dorsal fin white except for intrusion of upper part of second black bar and a yellow zone posterior to it. Distribution: Indo-Pacific: East Africa to Rapa and Ducie Islands, north to Southern Japan and the Hawaiian Islands, south to the Lord Howe Island. Eastern Pacific: Southern Gulf of California to Peru 22. From Indian coastal waters, this species was previously reported from Andaman and Nicobar Island 33, Tamil Nadu 28, Kerala 29, Karnatak
