Cá Kiếm
Xiphias gladius

Thông tin chính
Phân bố
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Là loài sống ở đại dương nhưng đôi khi được tìm thấy ở vùng nước ven bờ. Thường phân bố phía trên tầng nhiệt ôn, ưa thích nhiệt độ từ 18°C đến 22°C. Cá bột thường gặp ở vùng nước có nhiệt độ trên 24°C. Di cư về vùng nước ôn đới hoặc lạnh vào mùa hè và quay lại vùng nước ấm vào mùa thu. Cá trưởng thành bắt mồi cơ hội, kiếm ăn từ mặt nước đến tầng đáy trên một dải độ sâu rộng. Thức ăn chủ yếu gồm các loài cá (cá thu Đại Tây Dương, cá thòng long, cá hạc bạc, cá hồng mi, cá trích và cá đèn lồng); ngoài ra còn ăn động vật giáp xác và mực. Chúng sử dụng chiếc kiếm của mình để tiêu diệt con mồi. Các cá thể kích thước lớn có thể tích tụ hàm lượng thủy ngân cao trong cơ. Là loài đẻ trứng nhiều đợt. Mùa sinh sản diễn ra ở Đại Tây Dương vào mùa xuân tại khu vực phía nam biển Sargasso. Di cư đến vùng nước lạnh hơn để kiếm ăn. Cá cái sinh trưởng nhanh nhất. Việc xác định độ tuổi gặp nhiều khó khăn do sỏi tai (otolith) rất nhỏ và cá trưởng thành không có vảy. Các vòng tuổi đã được đếm thành công trên các mặt cắt của tia vây. Trứng nổi có kích thước 1,6-1,8 mm và cá bột mới nở dài 4 mm. Kiếm phát triển hoàn thiện khi đạt chiều dài 10 mm và cá non sống ở tầng nước mặt, nơi chúng nhanh chóng phát triển thành loài săn mồi vô cùng hung dữ. Phân tích giới hạn DNA ti thể cho thấy sự phân hóa di truyền xảy ra giữa các quần thể sinh sống ở Địa Trung Hải và vùng nhiệt đới Đại Tây Dương, cho thấy ít có sự trao đổi di truyền giữa hai khu vực này. Là loài cá thực phẩm có giá trị cao, được thương mại hóa ở dạng tươi hoặc đông lạnh, có thể chế biến thành món sashimi, teriyaki hoặc phi-lê.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Oceanic but sometimes found in coastal waters (Ref. 9354). Generally above the thermocline (Ref. 9354), preferring temperatures of 18°C to 22°C (Ref. 9987). Larvae are frequently encountered at temperatures above 24 °C (Ref. 9702). Migrate toward temperate or cold waters in the summer and back to warm waters in the fall. Adults are opportunistic feeders, known to forage for their food from the surface to the bottom over a wide depth range (Ref. 9702). Feed mainly on fishes (Atlantic mackerel, barracudinas, silver hake, redfish, herring and lanternfishes (Ref. 5951); also on crustaceans and squids (Ref. 9354). They use their sword to kill their prey (Ref. 9354). Large individuals may accumulate large percentages of mercury in its flesh (Ref. 9354). Are batch spawners (Ref. 51846). Spawning takes place in Atlantic during spring in southern Sargasso Sea. Migrate to cooler waters to feed (Ref. 4689). Females grow fastest. Determination of age is difficult since the otoliths are very small and scales are missing in adults. Year rings have been successfully counted on cross sections of the fin rays (Ref. 35388). Pelagic eggs measure 1.6-1.8mm and the newly hatched larvae is 4 mm long. Sword is well developed at a length of 10mm and young live pelagically in the upper water layers where they quickly develop into very voracious predators (Ref. 35388). Mt DNA restriction analysis reveal that genetic differentiation occurs between populations inhabiting the Mediterranean Sea and the tropical Atlantic ocean, indicating little genetic exchange occurring between the two (Ref. 12784). Good food fish, marketed fresh or frozen, and can be made into sashimi, teriyaki or fillets (Ref. 9354).
Cá con chỉ phổ biến ở vùng nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, di cư đến các vĩ độ cao hơn khi trưởng thành. Tại vùng biển đông nam Úc, độ dốc nhiệt độ và độ mặn sắc nét qua các front đại dương tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung của cá kiếm. Hiện ít biết về các cuộc di cư quy mô lớn của cá kiếm trưởng thành. Cá trưởng thành chỉ thực hiện các hoạt động di cư cục bộ hạn chế. Việc theo dõi cá bằng thẻ âm thanh cho thấy cá kiếm thường di chuyển lên tầng nước mặt vào ban đêm và sống ở vùng nước sâu hơn vào ban ngày, đạt độ sâu tới 600 m. Những chuyển động theo chiều thẳng đứng này có thể diễn ra nhanh chóng và liên quan đến sự thay đổi nhiệt độ nước lên tới 19°C. Một số cá được gắn thẻ dành thời gian ban ngày gần thềm lục địa hoặc các bãi ngầm và di chuyển ra khơi vào ban đêm. Ở vùng đông Thái Bình Dương, cá kiếm thường được nhìn thấy phơi mình ở mặt nước trong thời gian ngắn vào ban ngày, hành vi này có thể giúp cá phục hồi sau căng thẳng liên quan đến nhiệt độ thấp và mức oxy hòa tan ở vùng nước sâu. Cá kiếm thường sống đơn độc, nhưng các cặp cá thường xuyên được quan sát thấy ở mặt nước ngoài khơi bờ biển California. Cá bột phổ biến nhất trong vòng vài mét từ mặt nước vàoban ngày nhưng có thể di chuyển xuống độ sâu 30 m vào ban đêm. Cá kiếm non có chiều dài lớn hơn 10 mm ăn gần như độc quyền các ấu trùng của loài cá khác. Cá kiếm non là con mồi của cá mập xanh, cá ngừ và cá cờ. Các loài ký sinh trên loài này bao gồm sán dây Fistulicola plicatus; sán lá Tristoma spp.; sán đơn chủ Tristoma coccineum và T. integrum; giun tròn Thynnascaris incurva và chân chèo Pennella filosa.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Juveniles are common only in tropical and sub-tropical waters and migrate to higher latitudes as they mature (Ref. 7176). In southeastern Australian waters, sharp temperature and salinity gradients across oceanic fronts provide favourable conditions for concentrations of broadbill swordfish (Ref. 6390). Little is known of large scale movements by adult broadbill swordfish. Mature fish make only limited local movements (Ref. 9742). Tracking of fish using acoustic tags has shown that broadbill swordfish typically move to surface waters at night and inhabit deeper waters during the day, reaching depths up to 600 m (Ref. 30447). These vertical movements may be rapid and involve changes in waters temperature as great as 19°C (Ref. 6390). Some tagged fish spend daylight hours near the sea bed close to the continental shelf break or submerged banks and move offshore at night (Ref. 6390). In the eastern Pacific broadbill swordfish are commonly seen basking at the sea surface for short periods during the day, a behaviour that may allow the fish to recover from stress associated with low temperature and dissolved oxygen levels in deep water (Ref. 30447). Broadbill swordfish are normally solitary, but pairs of fish are regularly observed at the surface off the Californian coast (Ref. 30447). Larvae are most common within a few m of the surface during the day but may move to depths of 30 m at night (Ref. 30448). Swordfish larvae longer than 10 mm feed almost exclusively on larvae of other fish species (Ref. 6390). Young swordfish is preyed upon by blue shark, tuna and marlins. Parasites of the species include a cestode, <i>Fistulicola plicatus</i>; trematode, <i>Tristoma</i> spp.; monogenean, <i>Tristoma coccineum</i>and <i>T. integrum</i>; nematode, <i>Thynnascaris incurva</i> and a copepod, <i>Pennella filosa</i> (Ref. 5951).
Ở Đại Tây Dương, việc sinh sản diễn ra ở tầng nước mặt từ độ sâu 0 đến 75 m, nhiệt độ khoảng 23°C và độ mặn từ 33,8 đến 37,4 ppt. Sự phân bố của cá kiếm bột ở Thái Bình Dương cho thấy việc sinh sản diễn ra chủ yếu ở vùng nước có nhiệt độ từ 24°C trở lên. Quá trình sinh sản dường như diễn ra quanh năm ở vùng nước xích đạo, nhưng bị giới hạn vào mùa xuân và mùa hè ở các vĩ độ cao hơn. Sự thụ tinh ở cá kiếm là thụ tinh ngoài và hiện tượng ghép cặp giữa cá đực và cá cái đơn độc được cho là diễn ra trong quá trình sinh sản. Cá kiếm được ghi nhận đẻ trứng ở các tầng trên của cột nước, từ mặt nước đến độ sâu 75 m. Ước tính số lượng trứng dao động đáng kể, từ 1 triệu đến 16 triệu ở cá cái nặng 168.000 g và 29 triệu ở cá cái nặng 272.000 g.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
In the Atlantic Ocean, spawning occurs in the upper water layer at depths between 0 and 75 m, at temperatures around 23°C, and salinity of 33.8 to 37.4 ppt. The distribution of larval broadbill swordfish in the Pacific Ocean indicates that spawning occurs mainly in waters with a temperature of 24°C or more. Spawning appears to occur in all seasons in equatorial waters, but is restricted to spring and summer at higher latitudes (Ref. 30448). Fertilisation in broadbill swordfish is external and pairing of solitary males and females is thought to occur when spawning (Ref. 9742). Broadbill swordfish are reported to spawn in the upper layers of the water column, from the surface to a depth of 75 m (Ref. 43). Estimates of egg numbers vary considerably, from 1 million to 16 million in 168,000 g female (Ref. 9742) and 29 million in a 272,000 g female (Ref. 30372).
Cá Kiếm. Chiều dài tổng (TL) lên tới 457 cm (15 ft). Phân bố khắp toàn cầu; phía tây Thái Bình Dương bắc đến quần đảo Kuril phía nam; bắc đảo Vancouver (49° 53.12’ N, 128° 09.50’ W), British Columbia đến Valdivia, Chile, bao gồm vịnh California và quần đảo Galápagos. Sống ở đại dương; độ sâu: từ mặt nước đến 2.878 m (9.442 ft).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Swordfish. To 457 cm (15 ft) TL (Eschmeyer and Herald 1983). Circumglobal; western Pacific Ocean north to southern Kuril Islands (Savinykh 1998); northern Vancouver Island (49 ° 53.12 ’ N, 128 ° 09.50 ’ W), British Columbia (Luke Halpin, pers. comm. to M. L.) to Valdivia, Chile (Chirichigno and Vélez 1998), including Gulf of California (Robertson and Allen 2015), and Islas Galápagos (Grove and Lavenberg 1997). Oceanic; depth: surface to 2,878 m (9,442 ft) (Collette et al. 2011).
