Cá mú sọc ngang đen
Epinephelus fasciatus

Thông tin chính
Mô tả hình thái
Sinh thái & Dinh dưỡng
Phân bố
Giá trị kinh tế
Mẫu vật & Tài liệu
Sinh học — Sinh thái BIO
Ghi chú chi tiết
Loài này phổ biến ở các sườn ngoài rạn san hô tại độ sâu dưới 15 m, đồng thời cũng xuất hiện ở các vịnh kín và đầm phá với độ sâu chỉ từ 4 m. Loài có thể phân bố ở độ sâu lên tới 160 m. Tại Madagascar, cá hoạt động bắt mồi cả ngày lẫn đêm, thức ăn bao gồm cua, cá, tôm và các loài thuộc họ Galatheidae. Ở vùng biển Kenya, thức ăn của chúng là cua, tôm tít, cá, sao biển đuôi rắn và bạch tuộc. Tại Biển Đỏ, thành phần thức ăn chủ yếu là cá và một số loài giáp xác (chủ yếu là cua). Loài này thường bị đánh bắt bằng câu tay, lao xiên, bẫy và lưới rê.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Common in outer reef slopes at depths below 15 m, also occurs in protected bays and lagoons as shallow as 4 m. May also be found down to a depth of 160 m. At Madagascar it feeds night and day on brachyuran crabs, fishes, shrimps, and galatheid crabs (Ref. 6774). In Kenyan waters it feeds on crabs, stomatopods, fishes, ophiuroids, and octopus (Ref. 6448). In the Red Sea, mostly fishes and some crustaceans (mainly crabs) are consumed (Ref. 6699). Readily caught with hook-and-line, spear, traps, and gill nets (Ref. 39231)..
Phổ biến tại các sườn ngoài rạn san hô ở độ sâu dưới 15 m, cũng xuất hiện tại các vịnh kín và đầm phá ở độ sâu từ 4 m trở lên. Loài có thể được tìm thấy ở độ sâu tới 160 m. Tại Madagascar, cá ăn cua, cá, tôm và các loài thuộc họ Galatheidae cả ngày lẫn đêm. Ở vùng biển Kenya, thức ăn bao gồm cua, tôm tít, cá, sao biển đuôi rắn và bạch tuộc. Tại Biển Đỏ, thức ăn chủ yếu là cá và một số loài giáp xác (chủ yếu là cua). Loài phân bố tại các rạn đá và rạn san hô thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Common in outer reef slopes at depths below 15 m, also occurs in protected bays and lagoons as shallow as 4 m. May also be found down to a depth of 160 m. At Madagascar it feeds night and day on brachyuran crabs, fishes, shrimps, and galatheid crabs. In Kenyan waters it feeds on crabs, stomatopods, fishes, ophiuroids, and octopus. In the Red Sea, mostly fishes and some crustaceans (mainly crabs) are consumed (Ref. 5222). In rocky and coral reefs of the Indo-Pacific Region (Ref. 9137).
Loài này thể hiện sự kết hợp giữa tính lưỡng tính đồng thời và lưỡng tính tuần tự. Những cá thể nhỏ hơn trong nhóm xã hội là loài lưỡng tính đồng thời, trong khi những cá thể lớn nhất thường mất chức năng sinh sản cái và chỉ sinh sản với vai trò là cá đực.
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
This species exhibits a combination of simultaneous and sequential hermaphroditism. Smaller individuals within a social group are simultaneous hermaphrodites, while the largest often lose female function and reproduce exclusively as a male (Ref. 103751).
Epinephelus fasciatus: Báez và cộng sự, 2019: bảng bổ sung (C) (cần xác nhận thêm). Đây là loài ưa ấm phân bố ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, trải dài từ Biển Đỏ đến Port Alfred, Nam Phi ở phía tây, và khắp khu vực phía tây và trung tâm Thái Bình Dương (Craig và cộng sự, 2011; Froese và Pauly, 2020). Đây là loài không bản địa được ghi nhận một lần duy nhất tại quần đảo Canary, nơi cá thể trưởng thành có chiều dài tổng cộng 30 cm được ghi nhận lần đầu vào tháng 6 năm 2018 gần cảng Las Palmas, Gran Canaria (Falcón và cộng sự, 2018).
Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)
Epinephelus fasciatus: Báez et al., 2019: suppl. tab. (C) (as to be confirmed). An Indo-Pacific warm-affinity species, ranging from the Red Sea to Port Alfred, South Africa in the west, and throughout the western and central Pacific (Craig et al., 2011; Froese and Pauly, 2020). It is a single-record non-native species in the Canaries, from where it has been recently first recorded based on a 30 cm TL adult caught in June 2018 close to the Port of Las Palmas, Gran Canaria (Falcón et al., 2018).
Chưa có danh pháp đồng nghĩa.
