Quay lại danh sách
#50Tập 6

Cá mú sọc ngang đen

Epinephelus fasciatus (Forsskål, 1775)

WoRMS — Tên hợp lệ trên WoRMS
Tên được xác nhận
Xem trên WoRMS (marinespecies.org)

Thông tin chính

Tên gọi khác
Cá Song sọc ngang đen, Cá Song sọc đen
Common Name (EN)
Blacktip grouper
Kích thước
17.5 cm: kích thước lớn nhất 40,0 cm TL (Heemstra, P.C. and J.E. Randall, 1993).
Size
17.5 cm: maximum length 40.0 cm TL (Heemstra, P.C. and J.E. Randall, 1993).

Mô tả hình thái

D XI. 15-17; А IIІ. 8. Số vảy đường bên 49-75. Số lược mang dưới 15-17, số lược mang trên 6-8, tổng sôsố lược mang 21-25. Là loài có nhiều màu sắc khác nhau trên cơ thể (màu xám nhạt, đỏ, hồng hoặc vàng nhạt) với 5-6 sọc đứng tối màu. Đinh đầu màu nâu đỏ. Mép vảy trên cơ thể hình răng cưa ngoại trừ vảy trên đường bên, ức và lườn bụng. Nắp mang trên tròn, mép dưới hình răng cưa mịn đều. Vây đuôi tròn, màu hồng nhạt.

Sinh thái & Dinh dưỡng

Mẫu vật thường được phát hiện chủ yếu trong hệ sinh thải ran san bộ ở đô sâu 4-160m hô, độ (thường tập trung ở vùng sườn dốc rạn (thương tap ing o uS s ở đô sâu 15-30m); Thường sống đơn o dọ sau 15-5), ong soug no độc hoặc nhóm nhỏ; Là loài cá dữ săn moi ca ban ngay va ban dem, Thực mồi cả ban ngày và ban đêm; Thức ăn chủ yếu là cá, cua nhỏ và chân đầu (Morgans, J.F.C., 1982).

Phân bố

Việt Nam: Nơi phát hiện mẫu vật: Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Vĩ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc,... Thể giới: Vùng biển Ản Độ - Thái Bình Dương.

Giá trị kinh tế

Có giá trị trên thị trường thực phẩm hải sản tươi sống.

Mẫu vật & Tài liệu

Nơi lưu trữ mẫu
Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hải dương học.
Specimen
Research Institute for Marine Fisheries (RIMF), Institute of Marine Environment and Resources (IMER), Institute of Oceanography (IO).

Sinh học — Sinh thái BIO

Tên tiếng Anh (FishBase)
Blacktip grouper
English name (FishBase)
Blacktip grouper
Chiều dài tối đa
52.0 cm TL
Max length
52.0 cm TL
Trọng lượng tối đa
2,000 g
Max weight
2,000 g
Độ sâu phân bố
4 - 160 m
Depth range
4 - 160 m
Môi trường sống
Estuaries, Coral reefs, Benthic, Rocky
Habitat
Estuaries, Coral reefs, Benthic, Rocky
Nguy hiểm cho người
reports of ciguatera poisoning
Danger to humans
reports of ciguatera poisoning
Kiểu ăn
Săn mồi lớn (ăn thịt)
Feeding type
hunting macrofauna (predator)
Bậc dinh dưỡng
3.72
Trophic level
3.72
Hình thức sinh sản
true hermaphroditism, external fertilization
Reproduction
true hermaphroditism, external fertilization
Giá trị thương mại
Thương mại
Importance
commercial
Nuôi trồng thủy sản
Không/hiếm khi
Aquaculture
never/rarely

Ghi chú chi tiết

Tóm tắt sinh học (FishBase)(Biology summary (FishBase))

Loài này phổ biến ở các sườn ngoài rạn san hô tại độ sâu dưới 15 m, đồng thời cũng xuất hiện ở các vịnh kín và đầm phá với độ sâu chỉ từ 4 m. Loài có thể phân bố ở độ sâu lên tới 160 m. Tại Madagascar, cá hoạt động bắt mồi cả ngày lẫn đêm, thức ăn bao gồm cua, cá, tôm và các loài thuộc họ Galatheidae. Ở vùng biển Kenya, thức ăn của chúng là cua, tôm tít, cá, sao biển đuôi rắn và bạch tuộc. Tại Biển Đỏ, thành phần thức ăn chủ yếu là cá và một số loài giáp xác (chủ yếu là cua). Loài này thường bị đánh bắt bằng câu tay, lao xiên, bẫy và lưới rê.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Common in outer reef slopes at depths below 15 m, also occurs in protected bays and lagoons as shallow as 4 m. May also be found down to a depth of 160 m. At Madagascar it feeds night and day on brachyuran crabs, fishes, shrimps, and galatheid crabs (Ref. 6774). In Kenyan waters it feeds on crabs, stomatopods, fishes, ophiuroids, and octopus (Ref. 6448). In the Red Sea, mostly fishes and some crustaceans (mainly crabs) are consumed (Ref. 6699). Readily caught with hook-and-line, spear, traps, and gill nets (Ref. 39231)..

Ghi chú sinh thái(Ecology notes)

Phổ biến tại các sườn ngoài rạn san hô ở độ sâu dưới 15 m, cũng xuất hiện tại các vịnh kín và đầm phá ở độ sâu từ 4 m trở lên. Loài có thể được tìm thấy ở độ sâu tới 160 m. Tại Madagascar, cá ăn cua, cá, tôm và các loài thuộc họ Galatheidae cả ngày lẫn đêm. Ở vùng biển Kenya, thức ăn bao gồm cua, tôm tít, cá, sao biển đuôi rắn và bạch tuộc. Tại Biển Đỏ, thức ăn chủ yếu là cá và một số loài giáp xác (chủ yếu là cua). Loài phân bố tại các rạn đá và rạn san hô thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Common in outer reef slopes at depths below 15 m, also occurs in protected bays and lagoons as shallow as 4 m. May also be found down to a depth of 160 m. At Madagascar it feeds night and day on brachyuran crabs, fishes, shrimps, and galatheid crabs. In Kenyan waters it feeds on crabs, stomatopods, fishes, ophiuroids, and octopus. In the Red Sea, mostly fishes and some crustaceans (mainly crabs) are consumed (Ref. 5222). In rocky and coral reefs of the Indo-Pacific Region (Ref. 9137).

Ghi chú sinh sản(Reproduction notes)

Loài này thể hiện sự kết hợp giữa tính lưỡng tính đồng thời và lưỡng tính tuần tự. Những cá thể nhỏ hơn trong nhóm xã hội là loài lưỡng tính đồng thời, trong khi những cá thể lớn nhất thường mất chức năng sinh sản cái và chỉ sinh sản với vai trò là cá đực.

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

This species exhibits a combination of simultaneous and sequential hermaphroditism. Smaller individuals within a social group are simultaneous hermaphrodites, while the largest often lose female function and reproduce exclusively as a male (Ref. 103751).

Mô tả hình thái (GBIF)(Morphological description (GBIF))

Epinephelus fasciatus: Báez và cộng sự, 2019: bảng bổ sung (C) (cần xác nhận thêm). Đây là loài ưa ấm phân bố ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, trải dài từ Biển Đỏ đến Port Alfred, Nam Phi ở phía tây, và khắp khu vực phía tây và trung tâm Thái Bình Dương (Craig và cộng sự, 2011; Froese và Pauly, 2020). Đây là loài không bản địa được ghi nhận một lần duy nhất tại quần đảo Canary, nơi cá thể trưởng thành có chiều dài tổng cộng 30 cm được ghi nhận lần đầu vào tháng 6 năm 2018 gần cảng Las Palmas, Gran Canaria (Falcón và cộng sự, 2018).

Xem văn bản gốc tiếng Anh (FishBase / GBIF)

Epinephelus fasciatus: Báez et al., 2019: suppl. tab. (C) (as to be confirmed). An Indo-Pacific warm-affinity species, ranging from the Red Sea to Port Alfred, South Africa in the west, and throughout the western and central Pacific (Craig et al., 2011; Froese and Pauly, 2020). It is a single-record non-native species in the Canaries, from where it has been recently first recorded based on a 30 cm TL adult caught in June 2018 close to the Port of Las Palmas, Gran Canaria (Falcón et al., 2018).

Chưa có danh pháp đồng nghĩa.